Muốn chết. Ch4. Người lớn [8]

May 25, 2011 Truyện dài

8.

Nhà của người đàn ông nằm gần như ở ngoại ô, trên con đường đất đỏ bụi mù với hai hàng cây xanh mát ven đường. Suốt cả dọc dài, những ngôi nhà cứ thanh thản cách nhau một khu vườn nhỏ được bao bọc bởi hàng rào dâm bụt với vô vàn lồng đèn đỏ như thắp lửa cho những ngày hè rực rỡ, chứ không xen lấn tường sát tường như ta tưởng tượng. Nhà nào cũng treo một tấm biển có số và con phố cũng mang một cái tên. Từ nhà của người đàn ông, nếu như chịu khó bước chân thêm vài phút sẽ thấy con mương nhỏ, và bên kia là cánh đồng lúa xanh ngút tầm mắt. Ta tự coi ngôi nhà xây bằng gạch, đổ bê tông là của mình, dẫu sao chủ nhà cũng có chung dòng máu, song cái vết hằn ta mang trong tim từ những ngày phiêu bạt gian khổ đã ngăn cản ta nhìn nhận ông là cha.

Cuối mùa hạ, mẹ xin cho ta vào học ở trường tiểu học gần nhà, lúc đó thấy bụng mẹ lùm lùm. Mẹ nói cuối năm sẽ sinh em bé. Nếu anh ta không mất mẹ sẽ chẳng làm việc này, vì khi phụ nữ 41 tuổi sẽ chẳng còn thích hợp để mang thai nữa. Mà cơ duyên làm sao, lúc anh ta mất mẹ mới biết mình đã mang trong người sinh linh bé nhỏ hơn một tháng rồi. Có thể do ông trời sắp đặt lắm… Mẹ cũng phần nào bớt hằn học với người đàn ông về cái chết của con trai.

Nhập học được vài ngày trong nhà ta xuất hiện thêm nhiều người lạ. Đó là một người phụ nữ nhỏ thó cùng với ba đứa con gầy gò xanh xao. Bà ấy là vợ trước của người đàn ông, năm đứa con của bà ấy đều là anh chị cùng cha khác mẹ với ta. Ta tỏ ra chẳng quan tâm nhưng luôn tìm cơ hội nghe lén người lớn nói chuyện. Những lời tâm sự bập bõm sau vách tường khiến ta hình dung ra câu chuyện thế này:

Nhiều năm trước…

Mọi việc bắt nguồn từ khi mẹ ta 15 tuổi, mẹ trốn nhà đi thanh niên xung phong và gặp người đàn ông cùng đơn vị, cũng đến từ vùng nông thôn Đồng Chiêm. Hai người đã yêu nhau bằng tình đồng hương. Vài năm sau mẹ được cử đi học ở thành phố Rùa. Rời khỏi vùng chiến trường ác liệt nhất miền Trung, xa mối tình đầu có được trong suốt những năm tháng gian khổ phục vụ kháng chiến. Rồi hai người bặt tin nhau. Mẹ ra trường về làm cán bộ phòng điều độ ở cảng Dệt. Sau hơn 10 năm bỗng gặp lại người đàn ông thủa nào.

Nguyên do cũng tại dì Ba của ta – em gái ngay sau mẹ. Hồi đấy dì bán hàng ở bách hóa thị trấn Miếu, tình cờ gặp người đàn ông đeo đuổi chị mình năm nào, dì đon đả trò chuyện và xởi lởi: “Chị em làm ở cảng Dệt, vẫn chưa lập gia đình. Khi nào anh rảnh ghé chơi!”. Lúc này người đàn ông đã có vợ và năm đứa con, người vợ do mai mối ở cùng làng mà cưới chứ không hề yêu, đứa con gái đầu lòng ông đã lấy tên mẹ ta đặt cho nó. Tình cũ không rủ cũng tới, đôi tình nhâm năm xưa gặp lại nhau, nuối tiếc mối duyên dang dở, nên đã quấn quýt mặc kệ sự ngăn cản của hai gia đình. Người đàn ông về đòi cắt đứt với vợ con, nhưng bà ta kiên quyết không ký đơn ly hôn. Nhờ quen biết chủ tịch xã, nên ông đã xin được giấy chứng nhận độc thân, nói thác với mẹ ta đã hoàn tất thủ tục li dị. Cuộc đời mẹ rẽ hướng từ đấy.

Tránh sự va chạm với những gì đã thuộc về quá khứ, mẹ nghe lời chồng từ bỏ cuộc sống đầy đủ vẹn toàn của một cán bộ nhà nước chuyên về cầu cảng, chuyển vào vùng kinh tế mới ở Cao Nguyên – nơi đồi núi chập chùng, dân cư thưa thớt. Anh trai và ta lần lượt chào đời nơi đất khách sau hơn hai năm.

Khi ta vừa khô cuống rốn, chồng của mẹ đi công tác thường xuyên hơn, cả tháng ông mới về nhà một lần. Rồi một ngày mẹ đặt trước mặt lá đơn xin ly hôn, chủ động, không chiến tranh, không bất hòa, mẹ thản nhiên ký đơn ly dị chồng với vẻ mặt lạc quan, tràn ngập hy vọng. Chồng của mẹ chuẩn bị đi nước ngoài, với điều kiện không vướng bận gia đình, nên màn ly hôn này được coi như một vở kịch phục vụ cho cái lý tưởng cao cả: “vì tương lai con em chúng ta”…

Người đàn ông ra đi, mối tình đầu và hai giọt máu của ông ở lại sống trong chữ “chờ đợi”. Hai giọt máu bé dại, chưa từng biết cuộc sống vốn dĩ chẳng có gì ngoài vẻ phức tạp, được nuôi lớn dần bởi một người đàn bà vọng phu. Nhịp đời bình yên trôi trong hy vọng và nhớ mong….

“Tôi gặp chồng chị dưới thành phố Phồn Hoa”… Câu nói của một người quen ám ảnh mãi tâm trí mẹ. Có lẽ là nhìn nhầm, người trên thế gian giống nhau thiếu gì? Nhưng rồi không chỉ một, bắt đầu có người thứ hai, người thứ ba, người thứ đếm không nổi… xì xào về chuyện mẹ rơi vào tấn bi kịch của những người vợ sau sinh con – đức lang quân đã ngoại tình và tìm cách bỏ rơi không thương tiếc! Mẹ không tin, nhưng hoài nghi lớn dần theo những lời ong tiếng ve, để chứng minh chồng mình không hề như thế, mẹ cầm theo địa chỉ người ta ghi cho mình lặn lội xuống Phồn Hoa để gạch bỏ cái lý của số đông.

Đứng trước cổng ngôi nhà ở ngoại thành, mẹ ngần ngại… mình có quá vô duyên? Lân la hỏi những người sống quanh đấy về chủ nhân ngôi nhà, được biết một đôi vợ chồng mới chuyển đến cách đây hơn tháng, dường như đi làm cả ngày, tối muộn mới về, họ sống có vẻ rất hạnh phúc. Mẹ kiên nhẫn đứng chờ đôi vợ chồng ấy, để nhìn tận mặt, để có thể thản nhiên nói với những người nhiều chuyện rằng họ đã sai. Mẹ tin là như thế!

Rồi mẹ sững người trước bóng dáng quen thuộc của người đàn ông. Những gì đồn thổi là sự thật, bằng chứng chồng mình lừa gạt sờ sờ ra trước mắt. Cả thế giới đổ sụp, tan tành. Quá đau để mẹ có thể làm bất cứ điều gì… Mẹ chỉ đứng nhìn trân trối hai con người cũng đang bối rối nhìn lại mình…

Một người phụ nữ được ru ngủ bằng những giấc mơ ngọt ngào nhất giờ đây tỉnh dậy với vị đắng gắt trên mắt môi, vị đắng đó như thuốc độc đang phá nát trái tim yếu đuối…

*

Ta cũng không hiểu mẹ làm cách nào vượt qua chấn động kinh hoàng đó, nuôi nấng chăm sóc hai đứa con mà không phải dựa dẫm vào bất cứ ai. Đến khi lớn, ý nghĩ đơn thuần của ta là mọi chuyện như thế, con người phải sống như thế! Và ta cứ hồn nhiên không biết đến những cay đắng đè nén trong lòng mẹ. Ta chỉ mới là một đứa trẻ con chưa kịp lên mười.

*

Năm ta 6 tuồi, mẹ nghe tin chồng cũ của mình bị bắt giam trên thành phố Sương Mù vì tội kinh doanh trái phép hay tham ô gì đó, cầm lòng chẳng đặng, dẫu gì một ngày vợ chồng cũng là nghĩa trăm năm, mẹ lại sốt sắng thăm nuôi. Bởi người đàn ông đó – mất đi vị thế xã hội, vướng vào vòng tù tội đã không còn hồng nhan tri kỷ nào ở bên cạnh nữa. Cô nhân tình trong ngôi nhà dưới ngoại ô thành phố Phồn Hoa cần một người chồng mới từ nước ngoài trở về và hai đứa con trai đẹp đẽ hơn là một gã đàn ông tù tội. Ngày còn ở đèo Mỏ Đá, thỉnh thoảng mẹ gửi anh em ta cho hàng xóm trôm nom rồi nói đi lo công việc khoảng một, hai ngày. Ta sẽ không hề biết mẹ đi đâu, làm gì nếu như không được mẹ dẫn đi trong cái ngày đón chồng cũ ra trại, ông được mẹ bảo lãnh trở về với cuộc sống đời thường vì những người làm pháp luật không đủ chứng cớ kết tội. Giá như ngày đó trái tim của mẹ sắt đá hơn, thì  có lẽ đến bây giờ mẹ chắc sẽ không phải ấp ủ những dằn vặt về số kiếp. Hoặc giá như sau cái ngày ra tù về ở với mẹ con ta được hơn tháng thì ông bỏ đi biệt tăm tích không bao giờ quay về thì có lẽ cuộc sống của ba mẹ con đã hạnh phúc hơn. Kiểu hội ngộ tương phùng của những người yêu nhau từng dứt tình dứt nghĩa đâu thể nào hàn gắn những mảnh gương vỡ lành lại. Nó chỉ thêm một lần làm những mảnh sắc nhọn đã vỡ, tan nhỏ ra thành muôn vàn giọt lệ mà thôi.

*

Khi mẹ ta bắt đầu có những cử động nặng nề, cái ba lô đeo ngược lớn dần theo thời gian và tự nhiên cảm thấy khó chịu vì phải dùng số tiền tích lũy của mình nuôi gần mười miệng ăn trong nhà. Mấy mẹ con vợ cả của người đàn ông trở mặt. Họ ngấm ngầm đem giấu đi những đồ vật có giá trị mẹ đã mua về và xì xầm cạnh khóe, tiền mẹ cất trong tủ còn bị cạy khóa lấy trộm. Mẹ ta nóng tính hơn lửa và một vài trận hỗn chiễn diễn ra, người đàn ông trở thành trọng tài. Nhưng ông ta bạc nhược không thể dàn xếp được bất cứ một giải pháp hòa bình nào. Bà vợ cả nhảy xổ lên cùng đám năm đứa con đòi một khoản tiền lớn trở về quê trả nợ và sinh sống. Vợ hai cũng đòi lại số tiền đã  giao cho ông làm ăn để tìm lại cuộc sống yên bình trước đây. Ngôi nhà trở thành một chiến trường, tất cả đạn pháo trút lên đầu người đàn ông. Hoảng sợ, ông ta trốn biệt khỏi cuộc sống nặng nề, để hai bà vợ và một đàn con tự xử.

Vốn dĩ hai người đàn bà, một yêu trước cưới sau và một cưới trước yêu sau, không ai chịu nhường ai, người nào cũng nghĩ là mình đúng nên ra sức dằn hắt đối phương, tìm mọi cách đuổi kẻ bên kia chiến tuyến ra khỏi ngôi nhà. Bụng chửa, con thơ, mẹ ta trong lúc cáu giận đã xách túi đồ  bị ném ở góc sân dắt con qua nhà hàng xóm ở nhờ. Mẹ cố gắng chờ người đàn ông trở về để vớt vát lại số tiền ông mượn đi buôn gỗ bằng cách thì thầm bên gối hồi mới quay về. Mẹ cần tiền chuẩn bị cho việc sinh nở. Nhưng ông ta bặt tăm bặt tích.

Ta ở nhà hàng xóm như một đứa trẻ ngoan, suốt ngày ôm sách vở học bài trước hiên nhà. Mẹ lo phụ giúp nội trợ cho người ta, thỉnh thoảng lại cãi nhau với mẹ con mụ vợ cả qua hàng rào dây kẽm gai. Thai gần 8 tháng, mẹ biết chỗ người đàn ông hèn nhát đang lẩn trốn, liền dắt ta theo xe đò xuống tận vùng Cao Su xa mù tìm kiếm. Mùa mưa, con đường đất đỏ băng qua rừng cao su thỉnh thoảng có vài chỗ sụt lở, ôtô sơ sẩy trượt bánh xuống một cái hố suýt lật. Nếu như mẹ con ta chết, hẳn có người thanh thản.

Đổi vài chuyến xe, đi bộ một quãng đường dài, rốt cuộc cũng tìm được người đàn ông. Ông ta trùm mền nằm trong buồng không chịu ra gặp mặt. Nhà người lạ mẹ cũng không muốn ồn ào nên chỉ dắt ta vào, kéo chăn ra và hỏi ông định giải quyết chuyện nhà kiểu gì. “Bà về trước đi, mấy ngày nữa tôi về giải quyết hết nợ nần cho bà!” – ông ta gầm gừ khi kéo cái mền lên trùm kín đầu lần nữa. Bất quá mẹ phải đưa ta về Phồn Hoa và tiếp tục cuộc chờ đợi trong sự bấn loạn và một tương lai đen tối cho đứa trẻ sắp chào đời.

Người chồng chung quay về giải quyết chuyện gia đình. Cùng hai bà vợ ngồi trên công an phường ký một bản giao kèo sẽ trả cho mẹ ta số tiền bốn triệu rưỡi đáo hạn trong vòng 1 năm kể từ ngày ký. Có bảo chứng của pháp luật, mẹ cũng yên tâm hơn. Ở năm 1991, số tiền ấy sẽ mua được bao nhiêu vàng?

Không thể sinh nở trong nhà của hàng xóm, ta và mẹ cùng thai nhi hơn 8 tháng tuổi quay về ngôi nhà ở đầu đèo Mỏ Đá. Dẫu sao đấy cũng là ngôi nhà của mẹ, của ta. Đứa trẻ sẽ được sinh ra mà không phải nghe thấy bất cứ việc tranh chấp nào. Ở nơi dân tứ xứ đổ về làm kinh tế, họ biết thương cảm cho mẹ con ta hơn ai hết, nên nhiều người sẵn lòng giúp đỡ dù rằng nhà ai cũng nghèo.

Những ngày cuối thai kỳ, mẹ chờ đợi em bé ra đời và hồi hộp không biết là trai hay gái. Mẹ bảo là con gì cũng sẽ đặt tên em bé là Bình An, để cầu mong những sóng gió không đổ ập lên cuộc đời sau này của mấy mẹ con.

Nhưng hình như em bé không thích cuộc sống bên ngoài, nên nằm trong bụng mẹ rất lâu. Mẹ cứ tha thẩn ông chiếc bụng to xù đi ra đi vào và than vãn: “Chết rồi sao chẳng thấy em bé đòi ra. Đáng lẽ phải đẻ từ mấy hôm trước mới đúng…”. Hàng xóm chạy qua bày mưu: “Chị lén đi kiếm lu nước nhà ai có cái gáo dừa, đập bể là tối đẻ liền à!”, hoặc: “Ở quê em bà bầu thường đi tìm con trâu đang buộc, rồi bước qua dây thừng, hôm sau về đẻ luôn, có khi còn đẻ rơi giữa đường…”, một cô khác thì bảo: “Hay mai chị chịu khó vào rừng kiếm bó củi vác về, vận động làm cái thai dễ ra hơn!”… Cử động của mẹ nặng nề nên mẹ lười, lần lữa ngày này qua ngày khác chưa thực hiện các mẹo được bày. Tối tối ta nằm bên mẹ trong ánh đèn dầu mờ tỏ, nghe mẹ dự định: “Chắc mai mẹ phải vào rừng vác củi cho em con ra quá!”.

Tháng 11, ngày tết của các thầy cô, ta tỉnh dậy đã không thấy mẹ trong nhà, hàng xóm cũng đi làm, vắng tanh. Ta cầm gói quà mẹ chuẩn bị cho từ trước đi lên trường tặng cô giáo. Đến quá trưa trở về cũng chẳng thấy mẹ đâu, tôi lân la qua nhà hàng xóm hỏi chuyện, họ nói mẹ tôi đi đẻ ở bệnh viện rồi, vài ngày nữa mới về. Đến tối ta được biết mẹ đã sinh một bé gái vào 3h sáng. Vậy là ta sắp được nhìn thấy mặt em gái của mình. Mẹ vắng nhà, ta ăn ngủ luôn cùng mấy đứa trẻ hàng xóm.

3 ngày sau mẹ về, bế theo em bé đỏ hỏn, nhăn nhúm, xấu xí, rốn còn lòng thòng một đoạn dây nhìn như nhánh cây khô. Em bé hay khóc và mẹ chỉ có thể nằm trên gường ôm ấp cho em bé bú mà thôi. Mọi việc trong nhà, lúc cô hàng xóm rảnh thì làm giúp, còn không mẹ sai bảo ta hết chuyện này đến chuyện kia. Ta không còn thời gian chơi đùa cùng bọn trẻ trong xóm, thường xuyên phải túc trực ở cửa buồn giúp mẹ những việc lặt  vặt. Em bé thì cứ khóc oe oe điếc cả tai, thí em bé nín không xong mẹ quát ta ầm ầm. Nào là lấy nước uống, nào là lấy khăn, nào là dọn tã, nào là nấu cơm, nào đủ thứ việc vì mẹ đang ở cữ chưa thể ra ngoài. Ta đang tuổi ham chơi, thấy mình cực gì đâu không á.

Có lần, ta ngồi nấu một nồi cơm bằng bếp củi từ lúc 10 giờ trưa, hơn tiếng sau, mẹ nằm trong buồng hỏi vọng ra cơm chín chưa? Mẹ đói lắm! Ta trả lời cơm chưa sôi và cứ ngồi nhét củi vào đun khí thế, đun mãi không thấy cơm sôi. Hồ nghi ta mở vung nồi ra, ôi thôi chỉ thấy một màu đen khét cháy, do ta quên đổ nước vào sau khi vo gạo xong.

Lấm lét lên thưa với mẹ, mẹ cáu quá cố gắng lết dậy bắt ta đi vo gạo chuẩn bị nồi cơm khác rồi mẹ ngồi nấu cho nhanh. Ta vừa lo vừa sợ nép vào một góc. Mẹ nấu cơm, không ngớt miệng mắng mỏ tính đãng trí của ta và than thân trách phận sao số mình khổ sở vất vả. Ta đã đẻ con bao giờ đâu, nên lúc đó không thấy mẹ khổ, mà chỉ thấy mình khổ, nên cứ dấm dứt khóc và bỏ không thèm ăn cơm.

Tất nhiên từ lúc em gái sinh ra, ta không thể tránh khỏi cái số phận trở thành một đứa nô tỳ. Cả ngày chỉ loanh quanh luẩn quẩn nghe sai bảo và mắng mỏ. Nửa đêm đang ngủ cũng không yên giấc, em bé khó ở khóc thét lên là trong cơn ngủ ta nghe mẹ hét ầm ầm bắt dậy làm một cái gì đó. Ta  chưa đến mười tuổi, làm sao mà biết cảm thông với nỗi cực nhọc của người mẹ khi nuôi dưỡng con thơ. Ta chỉ thấy em bé là một nỗi phiền  phức rất lớn. Em bé làm mẹ khổ, làm ta khổ và tệ hơn nó làm mẹ ghét ta. Ta bắt đầu ước gì mẹ đừng sinh ra em bé, vì ta thấy ghét nó vô cùng.

Vậy mà mẹ đặt tên em gái trong giấy khai sinh là Yêu Thương. Ta ngây ngô hỏi mẹ sao không gọi em gái là Bình An như lúc chưa sinh. Mẹ chép miệng bảo: “Có mỗi nó út ít, không thương nó thì còn thương ai!”. Ta chưa đủ phản xạ để thấy mình cần nghĩ sâu xa về cụm từ liên hoàn không-thương-nó-còn-thương-ai của mẹ. Đạo đức ở đời thấm vào ta ý thức: Là mẹ phải thương con, là chị phải thương em. Nếu không chịu thương, mà ghét bỏ, thì rất đáng lên án. Nên ta vẫn nghe lời mẹ chăm lo cho em gái và ghét trong âm thầm. Ta sợ biểu lộ ra sẽ bị phán tội, mà người phân xử quyền lực nhất không ai khác ngoài mẹ.

Người ta luôn nói trẻ em hay ích kỷ ghen tỵ, song chẳng lẽ người lớn không có những thói xấu đó? Sinh ra là một đứa trẻ, làm người lớn phật lòng đã là điều sai lầm. Thù ghét con cưng của người lớn lại càng đáng trách hơn. Lỗi luôn là của trẻ con… Chỉ có người lớn mới được quyền phán xét. Nhưng nguồn gốc của trẻ con ở đâu? Và cả những lỗi lầm, ai đã sinh ra chúng?

Ta sợ phải làm việc nên trốn tránh bằng cách lúc nào cũng ôm sách học bài. Từ một đứa học sinh trung bình, lẹt đẹt ăn trứng ngỗng thường xuyên, ta bắt đầu được tuyên dương trong lớp vào mỗi cuối tháng và được giáo viên chủ nhiệm phát cho bảng danh dự vì điểm tháng cao nhất nhì lớp. Mẹ đỡ mắng mỏ ta hơn, chỉ bắt vừa bế em vừa học bài, tiện thể ngồi trông quầy hàng trước cửa. Lúc nào mẹ cho em bú thì ta rửa bát quét nhà. Song nhìn những đứa trẻ chơi đùa trước sân, ta thèm được như chúng lắm. Giá như mình không có em gái…

Em gái được gần năm, mẹ bế xuống thành phố Phồn Hoa, đi đòi tiền người đàn ông tệ bạc. Đáo hạn đã lâu lắm rồi nhưng ông ấy không hề ngó ngàng gì đến đứa con mới sinh và lời hứa của mình. Mẹ không vào nhà người đàn ông, nghe tin mụ vợ cả cũng vừa mới sinh thêm một đứa con gái – chỉ sau em ta vài tháng. Từ bên nhà bác hàng xóm, mẹ nhờ nhắn ông ấy qua giải quyết lời cam kết trong tờ giấy ghi nợ. Ông ấy trốn biệt tăm. Dò hỏi được hầu như tối nào ông cũng qua nhà một người bạn nhậu, mẹ bế con qua đó, nói: “Xin ông cho tôi mượn nhà, tôi chửi thằng chó ấy một trận”. Nhập nhoạng tối ông ấy qua, nhìn thấy mẹ bế con ngồi đó, ông cố làm mặt bình thản đến muốn xem mặt con, mẹ phủ tấm khăn lên che mặt đứa bé, gằn giọng: “Ông không xứng đáng để nhìn mặt nó!”. Rồi mẹ mắng chửi ông thậm tệ – một gã Sở Khanh bạc bẽo, nhẫn tâm, yếu hèn,… Chửi xong mẹ coi như số tiền của mình vĩnh viễn mất đi, đoạn tuyệt luôn với kẻ đã đẩy mình vào tận cùng đau khổ.

Ta vài lần đi học, ngang qua những con dốc, nhìn thấy ông ấy ngồi ở hàng quán dọc đường. Thoáng thấy bóng ta, ông ấy quay mặt vờ như không nhìn thấy. Chưa bao giờ nhận ông là cha nên ta vênh mặt lướt qua. Xưa kia chỉ là nỗi hận mơ hồ, vì ta không có chút ký ức nào về cha đẻ. Nhưng đến lúc đó, hận thù đã tạc hình: Ông ấy không xuất hiện thì anh trai ta đã không mất đi, mẹ ta đã không sinh thêm em gái, ta đã không phải chịu những khổ cực khi chỉ mới là một đứa trẻ tám tuổi. Mẹ bảo ông ấy đáng khinh hơn thú vật. Ta chưa bao giờ thấy thú vật tệ cả. Chúng luôn luôn thân thiện dễ thương, song rõ ràng ông ấy là một kẻ tệ bạc vô cùng.

*

Cuộc sống của ba mẹ con ở đầu đèo Mỏ Đá cứ âm thầm trôi đi, ta luôn là học sinh giỏi nhất lớp. Mẹ hãnh diện với hàng xóm lắm, tháng nào cũng vác bảng danh dự của ta đi khoe. Còn với ta đơn thuần: có học thì mới tránh được phần nào việc nhà.

Lên đến lớp Năm, ta dự định học xong cấp Một sẽ nghỉ, đi kiếm tiền bằng cách vào rừng hái đót hay xén lá chè già đem bán, đỡ đần cho mẹ phần nào. Trường cấp Hai ở xa tít mù, hơn nữa mẹ lúc nào cũng than khổ vì phải nuôi hai đứa con. Ta thấy mình như một gánh nặng. Rất nặng.

Tình cờ anh trai của mẹ đi công tác, người mà ta gọi là bác Cả, ghé thăm, nhìn thấy hoàn cảnh ba mẹ con côi cút, giục giã mẹ về quê sống cho có anh em, họ hàng, “một giọt máu đào hơn ao nước lã”. Mẹ đã thấm những nỗi cơ cực nơi xứ người, đã nhiễm lạnh khi xa gia đình nên bắt đầu khao khát về quê hương, về tình thâm, về mái ấm… Ở đất Cao Nguyên này, mỗi lần trái gió trở trời, căn bệnh sốt rét của mẹ như biến thành mãn tính, lại hoành hành. Vài tháng mẹ nhập viện một lần, dùng đủ các loại thuốc, tưởng khỏi nhưng sau đó lại tái phát. Người ta luôn trêu chọc ta rằng mẹ đã trở thành vật thí nghiệm thử thuốc cho mấy tay bác sỹ miền núi. Mẹ cũng nói bệnh viện mỗi lần gặp lại mẹ là lắc đầu bó tay với căn bệnh sốt rét dai dẳng đó. Vì vậy mẹ quyết định sẽ trở về quê khi ta kết thúc khóa học thứ nhất. Ta phải từ giã ngôi nhà gỗ với biết bao biến động, từ giã lớp học trên một triền đồi với thầy cô bè bạn mến yêu. Kỷ niệm cứ rưng rưng trong ngày bạn học đến chia tay, tiễn ta về một phương trời xa mịt.

Tiếc nuối về mảnh đất Cao Nguyên và những  ký ức vui buồn ép thành thương nhớ trong tim. Ta háo hức về một cuộc sống mới. Ở nơi đó có họ hàng làng mạc, sớm tối đỡ đần giúp nhau, tắt lửa tối đèn không phải quá lo lắng. Mẹ ta sẽ bớt cáu giận, ta sẽ bớt đi nỗi sợ về nhưng đòn roi, sẽ phần nào ít đi những cảnh nước mắt lã chã luôn khi bị mắng mỏ. Mẹ tôi quên hết đi những đau thương quá khứ, dằn nỗi mặc cảm của một kẻ tha hương thất bại trở về trong vòng tay bao dung của quê hương. Mẹ bảo rằng trở về quê để ta tiếp tục con đường học hành của mình. Có lẽ đó là lý do lớn tác động đến quyết định của mẹ, song nó cũng chỉ là một trong vô số bao lý do khiến mẹ trở về. Tâm hồn ta đã mập mờ tiếp cận những ranh giới nhạy cảm, biết xét đoán, ta dễ tổn thương và thấy mình không thể cảm thông hay vô tư với những chuyện xảy ra nữa. Trở về! Háo hức, háo hức với những dự định…

Hết chương 4

Kết nối với Keng qua Facebook Comment

comments

Từ khóa:

0 Comments

You can be the first one to leave a comment.

Đăng bình luận