QUỶ CỐC TIỀN ĐỊNH SỐ (QUẺ 21-30): BÍNH + …

December 22, 2012 Tướng mệnh - Tử vi

QUẺ SỐ 21: HOẢ LÔI PHỆ HẠP

BÍNH GIÁP

THIÊN ÂN TINH

Giáp Tý: Cách Du ngư xuất võng (Cá rong chơi thoát khỏi lưới)

• Giải: Hạnh ngộ cứu tinh, cố năng thóat hiểm. (May gặp cứu tinh nên có thể thoát hiểm)

Giáp Dần: Cách Phi huỳnh phóng hỏa (Đom đóm bay phóng hỏa)

• Giải: Căn cơ tuy bạc, diệc năng thành gia lập nghiệp (Căn cơ tuy mỏng cũng có thể thành gia lập nghiệp)

 

THIÊN ÂM TINH

Giáp Thìn: Cách Lạc hoa ngộ thủy (Hoa rụng gặp nước)

• Giải: Phiêu bạc vô định, tự tầm khóai lạc (Trôi giạt không bờ bến tự mình đi tìm khoái lạc)

Giáp Ngọ: Cách Thủy thâm ngư lạc (Nước sâu cá an vui)

• Giải: Tiêu dao tự tại, hậu phúc vô lượng (Thong dong tự tại về sau phúc lộc không lường)

 

THIÊN KHU TINH

Giáp Thân: Cách Thu thiền minh liễu (Ve mùa thu kêu trên cây liễu)

• Giải: Nhất sinh lao lực, tác sự vô thành (Một đời vất vả việc làm không thành)

Giáp Tuất: Cách Xuân thảo miên ngưu (Trâu ngủ trên cỏ xuân)

• Giải: Tảo tuế an nhàn, lai nhật đại nạn (Tuổi trẻ an nhàn ngày sau gặp nạn lớn)

 

PHÁN ĐOÁN:

• Thử mệnh phong vân tế hội chi tinh, Quân thần hoà hảo chi tú (Mệnh này là sao gió mây gặp hội, là tú khí của vua tôi hòa vui tốt lành)

• Sở tăng 憎 tăng nịnh, Hội giải hung tai, Tác sự bất khẳng 掯 súc 搐 đầu, Năng hội bài bố, Bình sinh 平生 sự nghiệp như đồng yến tử doanh sào, nhất thế thân tình hảo tự tiểu nhi tàng diện, Thân tâm bất túc lưỡng túc thường mang, Dị vinh khô đa phiên phúc, Thương thê hại tử phá tổ thành gia chi mệnh dã (Rất ghét tà nịnh, hay giải trừ hung tai, làm việc chẳng chịu bị đè nén rụt đầu, hay thích bày biện bố trí, bình thường sự nghiệp như cùng chim yến làm tổ, một đời thân tình tốt tựa như con trẻ dấu mặt, thân và tâm chẳng đủ hai chân thường chạy đôn chạy đáo, dễ tươi khô nhiều trở tráo, mệnh này hại vợ hại con phá tổ nghiệp mà thành gia đình vậy)

 

Cách chung cho 06 giờ

CÁI THỦY SONG LIÊN (Đôi hoa sen che mặt nước)

Xích cước vọng tiền mệnh khả tri

Liên hoa xuất thủy bất triêm 沾 nê

Biến canh thế sự sinh nhai hảo

Lao dịch thân tâm sự nghiệp trì

Hồng nhạn đoạn vân thành tụ tán

Uyên ương giao cảnh 頸 kiến phân li

Quân hoàn dục vấn bình sinh sự

Hảo hướng vân gian tá 借 nguyệt thê

 

Bước chân nhìn trước mệnh khá biết

Hoa sen khỏi nước chẳng thấm bùn

Biến đổi việc đời sinh sống tốt

Vất vả thân tâm sự nghiệp chậm

Nhạn hồng mây đứt thành tan tụ

Uyên ương giao cổ thấy chia lìa

Nếu mi muốn hỏi việc thường sống

Hay hướng vào mây mượn thang trăng

 

* Tuổi Bính cho 06 giờ Giáp: chỉ có giờ Ngọ là cuộc đời được bình yên tốt lành nhất, các giờ khác đều lao đao vất vả, cuộc đời sống tuy trong sạch như hoa sen trong bùn mà không bị nhiễm hôi tanh, trong cuộc sống bình thường nhất cũng gặp nhiều vất vả cực nhọc, tạo dựng sự nghiệp khó khăn và thành đạt công danh muộn, việc hôn nhân đôi lứa không được bền lâu.

HÀNH TÀNG

Nhất thân chiển 蹍 lí hà thời lập

Lập hướng vân trình tự hữu thê

Đắc lộc giang tân 津 thân giá khoát

Cao nhân thanh bạch tự đề huề

 

Một thân dầy xéo bao giờ thành

Đứng hướng đường mây tự có thang

Bến sông được lộc giá trị rộng

Người cao trong trắng tự dắt dìu

 

CƠ NGHiỆP

Thiên nhiên thành tựu an nhàn phúc

Đắc lộc thành danh đông phục 復 tây

Phượng các long lâu nhân sự hảo

Hưu nghi hối 晦 trệ tự thê thê 栖栖

 

Phước an nhàn thành bởi tự nhiên

Thành danh được lộc đông lại tây

Lầu rồng gác phượng việc người tốt

Chớ nghĩ mịt mờ lại buồn lo

 

* Ra đời phải trải qua nhiều khó khăn vất vả, trong thời còn tối tăm mù mịt và mọi việc ngưng trệ cũng đừng buồn lo, sau rồi nhờ có phước đức nên sẽ vượt qua mà có người quý hiển đến giúp đỡ, từ đó sẽ thành danh thành sự nghiệp sang giầu.

 

HUYNH ĐỆ

Phong tống hồng nhạn tự phi khứ

Thiên nghi tối tảo đắc cao phong

Chung tu chấn tác thanh danh viễn

Đường lệ phân phương đáo nhật hồng

 

Gió tiễn nhạn hồng tự bay đi

Rất sớm bên lệch được gió cao

Về sau danh tiếng nổi vang xa

Hoa đường thơm ngát ngày rực rở

 

* Trong anh em có người ra đời sớm, gặp thời vận tốt mà hiển đạt công danh.

 

HÔN NHÂN

Phương bài uyên ương đồng hí thủy

Khởi thời nhất chích tảo phân li

Thảo đường âu lộ phân phân lập

Nhật mộ tang du bất dụng bi

 

Uyên ương đùa giỡn cùng trên nước

Ngờ đâu một đứa sớm chia lìa

Bãi cỏ cốc cò chia nhau đứng

Cảnh già chiều đến chẳng buồn đau

 

* Vợ chồng lúc đầu đầm ấm vui vầy bên nhau, rồi chợt nhiên một người sớm chia lìa ra đi, cảnh về già đơn độc cũng chẳng nên buồn thương vì số trời đã định là như vậy.

 

TỬ TỨC

Đình bạn xuân hoa kết nhất quả

Thanh âm 陰 tu trúc 修竹 trưởng long tôn

Lưỡng niên chu tử doanh môn hộ

Nhất chú thiên hương tạ thánh ân

 

Trước sân hoa xuân thành một quả

Trúc dài bóng xanh con cháu lớn

Hai năm đỏ tím đầy nhà cửa

Một nén hương thơm lễ thánh thần

 

* Có con cháu rất quí hiển, là quan chức cao làm rạng rỡ họ hàng gia đình.

 

THU THÀNH

Thời trị vận phùng tương hợp xứ

Thừa ngưu kỵ mã thượng thanh thiên

Tri âm chính hảo đồng mưu dụng

Biệt điệu phong xuy vấn điếu thuyền

 

Gặp gỡ vận thời nơi cùng hợp

Cưỡi trâu cưỡi ngựa lên trời xanh

Bạn thân thật tốt cùng tính kế

Gió thổi điệu riêng hỏi thuyền câu

 

* Khi đã gặp thời vận rồi thì bước thăng tiên công danh lên cao, cùng với bạn tốt tính kế mưu cầu mà hiển vinh, năm hay vận Sửu, Ngọ là vận tốt, cuối đời sống an nhàn ra đi nhẹ nhàng.

 

QUẻ Số 22: HỎA PHONG ĐỈNH

BÍNH – ẤT

DANH LỢI TINH

Ất Sửu cách: Xuân yến quy sào (Chim én mùa xuân về tổ)

• Giải: Khắc cần khắc kiệm tử tôn mãn đường (Hết sức cần kiệm con cái đầy nhà)

* Mùa xuân vạn vận sanh sôi nẩy nở, chim én bay chăm chỉ đi bay về như đưa thoi để tìm thức ăn cho bầy con cháu, cả một đời cần cù tiết kiệm chăm lo cho con cháu nên gia đình đông đúc ấm no.

Ất Mão cách: Phong niên 豐年 hưởng 餉 túc (Năm được mùa cho nhiều lúa gạo)

• Giải: Phong y túc thực vô ưu vô lự (Cơm áo dư dật không lo không nghỉ)

* Cuộc đời gặp vận may như năm gió thuận mưa hòa, làm việc gì cũng thuận lợi như năm được mùa lúa gạo dầy kho, chẳng phải lo nghĩ đến thiếu thốn cơm ăn áo mặc trong cuộc đời.

 

ĐIỆU THƯ TINH

Ất Tỵ cách: Viêm thiên phá phiến (Trời nóng quạt rách)

• Giải: Tuy vô đại tài diệc hữu đắc ý chi nhật (Dù không có tài lớn nhưng cũng có ngày được vừa ý)

* Quạt tuy rách nhưng gặp lúc trời nóng thì rách vẫn sử dụng làm cho mát, còn hơn quạt bị rách sẽ vất bỏ trong mùa mát lạnh thu hay đông, tuy không làm được việc gì lớn lao trong cuộc đời nhưng cũng còn ích lợi nhỏ cho bản thân.

Ất Mùi cách: Vũ lí quỳnh hoa (Hoa quỳnh trong mưa)

• Giải: Tuy hữu hoạn nạn hào vô tổn thương (Dù gặp hoạn nạn nhưng mảy may không tổn thương)

* Hoa quỳnh là một loài hoa quí đêm nở sáng tàn tạ, đời sống của hoa rất ngắn chỉ vài giờ không như các loài hoa khác, những người yêu hoa thường đón chờ hoa nở để thưởng thức, nếu có gặp mưa gió cũng sẽ che chở cho hoa nở xong rồi tàn, ám chỉ đời người là một tài hoa nếu có gặp hoạn nạn rồi cũng sẽ có người giúp đỡ che chở cho mà không bị thương tổn.

 

PHƯỢNG CÁC TINH

Ất Dậu cách: Ẩn tinh lạc 落 vân (Sao trốn nấp mây sa)

• Giải: Đại khí 器 vãn thành, mục tiền thượng 尚 phi 非 kì thời (Tài năng lớn thành đạt muộn, hiện tại đang còn không phải thời).

* Tinh tú tượng trưng cho những anh tài lỗi lạc, nay sao phải trốn trong mây, mây thì sa xuống dưới, nên thời vận còn đen tối nếu qua thời vận tốt sẽ thành đạt lớn.

Ất Hợi cách: Hạ liễu minh thiền (Ve kêu trên cây liễu mùa Hạ)

• Giải: Căn cơ thiển bạc hạnh nhi thượng hữu ỷ bàng (Căn cơ nông cạn may nhờ còn có chổ nương tựa)

* Kiếp sống ve sầu ngắn và mỏng manh sống nương nhờ vào cây để hút nhựa cây mà sống trong vài tuần, cây trong mùa xuân hạ đang trưởng thành tươi tốt nhựa cây dồi dào không như mùa thu mùa đông, nhờ đó ve sầu cũng sống những ngày tháng được no ấm trong đời.

 

PHÁN ĐOÁN:

• Thử mệnh ngọc nhuận 潤 kim huy nhân giai 偕 ngưỡng mộ, khả vị đỉnh chung 鼎鍾 chi khí, lương đống 棟 梁 chi tài, chỉ hiềm thoái thần trọng cố hảo sự vu hồi, phiêu 漂 phúc 福 xứ lao nhi vô tâm, tân khổ xứ tố 做 sự bất thực, vu ta hề! hảo sự tòng lai bất thập toàn, thái 彩 vân dị tán lưu ly dị toái 碎, bản thị hiên ngang đầu giác nại hà vị thông ? hành đắc long ngâm.

* Mệnh này là ngọc nhuần nhã vàng tươi sáng, người người đều kính trọng hâm mộ, khá gọi là cái khí tượng quý hiển, là người có cái tài năng gánh vác việc lớn quan trọng, chỉ hiềm vì thoái thần nặng, cho nên việc tốt bị quanh co, nơi phúc nổi nhọc nhằn mà không công trạng, nơi khó nhọc việc làm lại không thực, chao ơi kìa ! việc tốt theo từ đó tới chẳng vẹn được mười, mây đẹp dễ tan ngọc quí lưu ly dễ vỡ, vốn là người hiên ngang sừng sỏ, tại sao vận hạn chưa thông ?, đi được rồng gầm hốt nhiên biến đổi vượt trội.

 

Cách chung cho 06 giờ

TƯỚC TÚC THÂM LÂM (Chim sẻ đậu trong rừng sâu)

Tiên phát hàn lâm bất cập thời

Trần ai phất lạc thượng vân thê

Nhạn hoành thu thủy li quan tái

Tước túc thâm lâm thác ổn chi

Kí 寄 đắc đông hoa nhân 因 tạo hóa

Hà sầu vạn sự bất quang huy 光輝

Sinh nhai nhược vấn hà phương hảo

Phong tống hoa hương tế điểm y

 

Rừng lạnh đi sớm chẳng gặp thời

Phủi hết bụi trần lên thang mây

Nhạn ngang nước thu rời quan ải

Sẻ đậu rừng sâu cành vững nương

Hoa đông nương được nhờ tạo hóa

Buồn chi muôn việc chẳng vẻ vang

Nếu hỏi sinh sống phương nào tốt ?

Gió đưa hoa thơm điểm vào áo

 

* Tuổi Bính cho 06 giờ Ất: sinh giờ Mão tốt nhất, giờ Sửu Dậu trung bình các giờ khác tuy xấu nhưng không bị tổn hại. Số này phát đạt chậm, lúc còn trẻ phải nương nhờ vào gia đình họ hàng để chờ đến thời mới phát triển được tốt.

 

HÀNH TÀNG

Kỉ 幾 hồi du 遊 thưởng hoa gian chí

Bất nhược phát cung nhất thốn cơ

Đáo để tất vinh thiên lộc mã

Căn cơ đào lí lưỡng tương nghi 宜

 

Mấy phen rong chơi ngắm giàn hoa

Chẳng bằng một đốt lẫy bắn cung

Đến đấy vẻ vang ngàn phú quí

Gốc rễ lí đào hai cùng thành

 

CƠ NGHiỆP

Trì 遲 nhật hoàng đô xuân chính lệ

Trì 持 thân tu đáo phượng hoàng trì 池

Dã như bất thị yêu kim khách

Dã đắc thiên biên hảo tước mi

 

Cung vua ngày chậm giữa xuân đẹp

Giữ thân đợi đến ao phượng hoàng

Ví như chẳng phải khách đeo vàng

Vậy được kế bên tước lộc tốt

 

* Lúc còn chờ thời thì rong chơi thưởng lãm trăng hoa, đừng để thân mình bị lôi kéo đam mê theo thú vui đó, mà duy trì ý chí tạo dựng nên sự nghiệp, đến lúc đấy cho dù không cực phẩm vinh hoa như làm phò mã hay trạng nguyên thì cũng thành danh với tước tốt đẹp.

 

HUYNH ĐỆ

Tái biên tứ nhạn tề thanh khởi

Lưỡng lưỡng tam tam các tự phi

Duy hữu cô hồng thiên vạn lí

Du du túc thực tại ngư ki 磯

 

Bên ải bốn nhạn cùng lên tiếng

Song đôi ba cặp cùng bay đi

Chỉ có chiếc hồng muôn ngàn dặm

Rong ruổi đủ ăn bên bãi câu

 

* Anh em đông đúc tụ tập quanh nhà, rồi chia nhau ra mỗi nơi, có một người đi xa ngàn dặm, cũng được no ấm đầy đủ.

 

HÔN NHÂN

Duyên phận do như tam đảo hạc

Long hổ tại động thủ nham tiền

Uyên ương bất nhược âu hòa lộ

Yến ngữ oanh đề vãn cảnh huyên 喧

 

Phận duyên như hạc nơi ba đảo

Cọp rồng ở động giữ trước núi

Uyên ương chẳng như cò chung cốc

Én kêu oanh hót cảnh muộn ồn

 

* Duyên phận vợ chồng lúcđầu còn xa cách, hai bên đều thủ thế nhau như cọp với rồng giữ hang ổ của mình, khi đã thành thân rồi thì sống không cùng hòa hợp với nhau ví như chim cò chim cốc, càng về già càng ầm ỹ với nhau như bầy chim oanh chim yến om sòm với nhau.

 

TỬ TỨC

Hàm 椷 ngoại nhất chi hoa lưỡng đóa

Kì gian nhất quả tại trung tồn

Tảo bồi hảo địa tài tân trúc

Thạch bạn u lan trưởng dị phân

 

Ngoài chậu một cành hoa hai đóa

Nơi đó một quả còn ở trong

Đất tốt sớm bồi trồng trúc mới

Bờ đá khóm lan dài thơm lạ

 

Có đủ con trai con gái, nếu sớm biết vun trồng cho con cái thì sau này con sẽ trưởng thành được khá giả danh tiếng.

 

THU THÀNH

Phùng khuyển đề trầm túy hậu

Thần kê khước hướng thủy chung đề

Đa nghi cẩn tỉnh đương niên mộng

Mạc vấn giang biên đệ 杕 nhất chi

 

Gặp chó phòng ngừa sau khi say

Gà thần hướng vào trong nước gáy

Ngờ nhiều cẩn thận mộng năm đó

Chớ hỏi bên sông một cành cây

 

* Cuối đời về già năm Tuất cần cẩn trọng sức khỏe, nhất là sau khi say sưa có thể gặp tai nạn, năm Dậu nếu gặp giấc mộng lạ chớ coi thường mà phải phòng ngừa nạn sông nước

 

QủE Số 23: BÁT THUẦN LY

BÍNH – BÍNH

TỬ KHÍ TINH

Bính Tý cách: Nẫm 稔 tuế thương 倉 sương 箱 (Năm được mùa chứa đầy kho vựa)

• Giải: Sinh trưởng phú quý chi gia vô ưu vô lự (Sinh ra lớn lên trong gia đình phú quý, không lo không nghĩ)

* Sinh ra trong gia đình giầu có, kho vựa chứa đầy bao lúa thóc trong năm được mùa, áo cơm đầy đủ sung sướng cả đời chẳng phải nhọc nhằn lo nghĩ.

Bính Dần cách: Tửu lan 酒闌 đối nguyệt (Cuộc rượu gần tàn đối diện trăng)

• Giải: Tráng niên đắc ý vãn niên tiêu dao vô sự (Đến tuổi tráng niên thì đắc ý về già nhàn nhã vô sự)

* Thời còn trẻ đã năng động làm việc được thành đạt sớm, bước vào tuổi trung niên đã thưởng ngoạn ngắm trăng, về già lại càng thêm an nhàn thảnh thơi.

 

THIÊN THỤY TINH

Bính thìn cách: Bảo thuyền nhập hải (Thuyền báu vào biển)

• Giải: Đắc ý chi hậu phòng hữu hoạn nạn (Đắc ý đấy về sau phòng có hoạn nạn)

* Thuyền quí đẹp mà vào biển là chốn dễ xẩy ra bão tố nguy hiểm, có được sự thành đạt lúc đầu khoái chí nhưng về sau nên phòng ngừa sẽ có hoạn nạn làm tiêu tan.

Bính Ngọ cách: Thu đê dương liễu (Cây dương liễu mùa thu bên bờ đê)

• Giải: Vãn niên cảnh huống hữu tiêu điều chi tượng (Tuổi già tình cảnh gặp phải hình tượng tiêu điều)

* Cảnh tượng mùa thu vốn đã ảm đạm tiêu điều và còn ngụ ý mùa thu là lúc tuổi đã về già, nhìn cảnh cây dương liễu ũ rũ trên bờ đê càng thấy thêm hiu quạnh, về già sống trong cảnh buồn bã cô đơn.

 

THIÊN QUANG TINH

Bính Thân cách: Thu nguyệt phù dung (Trăng thu hoa phù dung)

• Giải: Tráng niên dĩ hậu tiệm nhập giai cảnh (Từ tuổi trung niên về sau dần dần gặp cảnh tốt)

* Mùa thu trăng rất sáng, hoa phù dung tuy sáng nở tối héo tàn nhưng rất đẹp, thường được các thi nhân yêu thích, đời người mà ví như trăng thu ngắm trăng ngắm hoa thì dù đời sống có ra sao cũng thật là cảnh đẹp và thi vị.

Bính Tuất cách: Tuyết lí tầm mai (Tìm Mai trong tuyết)

• Giải: Khổ trung đắc lạc (Trong cái khổ được cái vui)

* Phải dầm mưa tuyết giá lạnh để đi tìm cây mai thì phải là người có tâm tình thiện mỹ, cho nên chấp nhận cảnh khổ để đi tìm niềm vui trong nội tâm.

 

PHÁN ĐOÁN:

• Thử mệnh nãi quan lộc chi tú công danh chi tinh, tự hợp thân vịnh 泳 vị hiển, nại hà hạn trì trì, hội 會 thi vi lãn 嬾 phủ ngưỡng, ư nhân bất túc hảo sự đa ma磨, ân nhân phản tắc 謖 cừu oan, thân 親 giả đồng mạch lộ, tam bất túc tam biện, khoa danh bất túc, gia viên bất túc, nhi nữ bất túc, đẳng 等 nhàn mạc oán lao tâm tảo, thượng sơn tu 須 hữu hạ sơn thời.

* Mệnh này là tú khí của quan lộc là sao công danh, tự gộp lại thân chìm lắng mà không hiển lộ, vì sao vận hạn lại chậm chạp trì trệ, hiểu biết cách thức bày ra làm việc, lười cúi đầu ngửa mặt (lòn cúi), so với người thì không đủ, việc tốt nhiều gian nan, làm ơn cho người thì lại khởi lên oán thù, người thân như khách qua đường (lạnh lùng vô tình), ba chẳng đủ ba không phân biện, khoa danh không đủ, nhà đất vườn tược không đủ, con cái không đủ, đợi chờ đến lúc an nhàn rồi chớ nên oán nhọc lòng sớm, lên núi đợi thời có ngày xuống núi.

Cách chung cho 06 giờ

HỔ KHỐN TÙNG LÂM (Cọp bị khốn quẫn ở rừng tùng)

Sinh thân hảo tựa chủng thùy dương

Đãi đắc dương 楊 thành liễu 柳 bất trường

Nhạn quá bích tiêu 霄 vân trở cách

Cúc khai hàn lộ vãn hinh 馨 hương

Sơn hàn hổ khốn chung tu tỉnh

Địa lãnh hoa khai tử kiến thương

Nhất đán phiêu diêu thừa hứng khứ

Khán tha y cẩm tái hoàn hương

 

Thân sinh tốt như trồng dương liễu

Đợi được dương thành liễu chẳng dài

Nhạn qua trời biếc mây ngăn cách

Sương lạnh cúc nở muộn mùi thơm

Núi lạnh hổ quẫn sau nên tỉnh

Đất lạnh hoa nở quả bị thương

Một mai phất phới thích thú đi

Thấy ai áo gấm trở về làng

 

* Tuổi Bính cho 06 giờ Bính: sinh giờ Tí, Dần, Thân tốt, các giờ khác trung bình. Thân sinh ra ví giống như là trồng cây dương cây liễu chịu dựng dẻo dai, trong thời khốn khó thì hãy bền vững chịu đựng và tu dưỡng để chờ thời vận tốt đến rồi sẽ được công danh vinh hiển.Cây liễu tượng trưng cho vẻ đẹp của phụ nữ “mình liễu, liễu yếu đào tơ”, cây liễu tuy ẻo lả nhưng thật dẻo dai, bền vững chịu đựng giỏi tựa như người phụ nữ phương Đông, thường được trồng ven bờ biển để giữ đất không bị sạt lở, cho dù ngày ngày mưa gió bão bùng vẫn uốn theo chiều gió vẫn xanh tươi tốt mà không bị gẫy đổ hay trơ trụi héo tàn. Thơ ca Trung Quốc và Việt Nam thường ca ngợi “tùng hùng vĩ, mai thanh kỳ, trúc thanh nhã, liễu yểu điệu như thiếu nữ”, lại còn coi Tùng – Trúc – Mai là tam kiệt hoặc tam hữu. Trái lại cũng có một số cây bị người đời xa lánh vì nó không đem lại niềm vui, hạnh phúc cho người “ma cây gạo, cú cáo cây đề”.

 

HÀNH TÀNG

Trì cung hiệp 挾 thỉ 弛 phi ngô sự

Nhật cận thanh 清 quang tiệm hữu thanh 聲

Nhược vấn phùng hầu tiền lộ khoát

Tây trì huy tiết hướng trùng thành

 

Cầm cung buông dây ta chẳng làm

Gần ngày trong sáng dần có tiếng

Nếu hỏi tước hầu trước đường rộng

Bên Tây cờ lệnh hướng đô thành

 

CƠ NGHiỆP

Việt ấm tì hưu 貔貅 thanh giá biệt

Trùng trùng thiên lộc tạ hoàng ân

Tiếu ngạo cao tường 翱翔 đãi ngọc thần

Tri âm thân tiến thiên sơn ngoại

 

Phúc ấm dũng sĩ vượt danh tiếng lạ

Lộc trời liên tiếp đáp ơn vua

Thân ngoài bên núi tiếp tri âm

Cười ngạo bay lượn đợi ngọc thần臣

 

* Lập chí dựng công danh không chịu làm kẻ thấp dưới, nuôi chí lớn phải làm tới tước công hầu, nhờ phúc đức phò trợ mà gặp ngày vượt trội nổi danh, đến lúc đó từ nơi xa cầm cờ lệnh về triều đình nhận ngọc bài vua ban cho tước vị. Tì hưu 貔貅 con gấu trắng (bạch hùng), một giống thú rất mạnh, cho nên đời xưa các dũng sĩ gọi là tì hưu.

 

HUYNH ĐỆ

Nhạn tự phân phi hàn tái viễn

Hồ bạn 畔 ni nam 呢喃 bạn lữ vô

Cô hồng tà lạc thái 彩 hà 霞 ngoại

Độc trạo thiên chu quá ngủ hồ

 

Nhạn tự chia bay ải lạnh xa

Ven hồ thì thầm chẳng bè bạn

Chiều xuống chiếc hồng ngoài ráng đẹp

Bơi chiếc thuyền nan qua năm hồ

 

* Anh em chia nhau đi xa mỗi đường, một mình đơn chiếc không bạn bè thân thiết, tự mình tìm lấy đường công danh sau bao phen vất vả.

 

HÔN NHÂN

Oanh yến phân phân vị sấn tâm

Uyên ương phân tán tái tầm minh 盟

Vãn lai đào lý thành âm xứ

Trúc nội mai hoa phận ngoại vinh

 

Ngổn ngang oanh yến chưa vừa lòng

Uyên ương chia lìa sau tìm hẹn

Về sau đào lí nơi bóng mát

Hoa mai bụi trúc phần ngoài tốt

 

* Việc hôn nhân nhiều phen phân vân ngổn ngang tâm sự, vợ chồng có phen li thân nhưng rồi sau lại kết hợp lại, về già sống yên ổn với nương tựa nhau tốt lành.

 

TỬ TỨC

Lưỡng hoa lưỡng quả vãn lai thành

Châu tử đường tiền hí thái vinh

Chi quế sâm 森 sâm lan ngọc thịnh

Như phùng ngưu hổ cánh tranh vinh

 

Đôi hoa hai quả về sau thành

Trước nhà con cháu đùa vui sướng

Cành quế um tùm ngọc lan tốt

Gặp trâu cùng hổ tranh tươi tốt

 

* Con có cả trai lẫn gái, con cháu đầy đàn được hiển vinh ngày càng thêm thịnh vượng

 

THU THÀNH

Ngộ hổ thừa chu tự khả nghi

Thử thời bình địa thị tai nguy

Như long thức thế tri cơ tảo

Cao quải phàm phong sấn đối phi

 

Gặp cọp chèo thuyền tự nghi ngờ

Thời ấy đất bằng vậy cũng nguy

Như rồng biết thế hiểu cơ sớm

Treo cao buồm gió lấn đối bay

 

* Đi vào Vận hay năm Dận tự thấy nghi ngờ điều không được tốt lành cho mình, sẽ có diều nguy hiểm đến cho dù có ở trên đất bằng nơi bình yên cũng khó mà tránh khỏi, nếu dã hiểu biết như thế và lường định trước rồi thì cứ an nhiên vui vẻ mà ra đi.

 

QủE Số 24: HOẢ ĐỊA TẤN

BÍNH – ĐINH

THIÊN KHÔI TINH

Đinh Sửu cách: Tuyết trung chu 舟 ảnh (Bóng thuyền trong tuyết)

• Giải: Sự nghiệp năng thành tân khổ dị thường (Có thể thành sự nghiệp nhưng cuối cùng khổ lạ thường)

* Trong trời mưa tuyết nhìn bóng thuyền đi như mỗi người trong dòng đời, mỗi người có một dòng đời riêng biệt, tuy rồi ai cũng tạo ra một cái gì đó trong cuộc đời của mình, tùy theo số mà sung sướng hay khổ cực, cảnh tượng một bóng thuyền trong mưa tuyết, mà lại chỉ là một cái bóng chứ chưa hẳn là cái thuyền, nửa thực nửa hư nên cho dù có tạo được sự nghiệp cũng phải trải qua những hoàn cảnh cay đắng khổ cực khác với những cảnh đời sống bình thường.

Đinh Mão cách: Thuận thuỷ hành chu (Thuyền xuôi theo giòng nước)

• Giải: Sở tác chi sư hào vô trở ngại (Việc làm không có chút trở ngại)

* Vào đời tạo sự nghiệp như đi thuyền tìm kiếm mưu sinh, mà gặp dòng nước thuận cứ thế trôi đi chẳng phí nhọc nhiều công sức, dễ thành công trong sự nghiệp không gặp nhiều trở ngại.

 

THIÊN CƯƠNG TINH

Đinh Tỵ cách: Lộ nhập bình pha 頗 (Đường vào nơi rất đều bằng phẳng)

• Giải: Nhất sinh an ổn hào vô nguy hiểm (Suốt đời yên ổn không chút hiểm nghèo)

* Đi vào đời như đi xe gặp đường bằng phẳng, cứ thế mà chạy bon bon cho tới cuối đường chẳng gập ghềnh trở ngại nên không chút lo âu nguy hiểm, xây dựng sự nghiệp trong đời cứ đều dặn thẳng tiến và bình thường êm dềm.

Đinh Mùi cách: Trúc cái hành chu (Thuyền đi dưới bóng trúc)

• Giải: Đồ danh đồ lợi mưu vọng tốc hiệu (Mưu tính danh lợi khó mong nhanh chóng có hiệu quả)

* Đi vào đời một cách êm đềm và được che chở như đi thuyền dưới bóng cây trúc hoặc được che mái bằng cây trúc không bị nắng soi mưa ướt, được an nhàn quá nên có phần ỷ dựa vào sự che chở đó, mà thiếu đi sự rèn luyện ý chí hoặc trải qua kinh nghiệm sống để xông pha dốc hết sức vào nơi khó khăn tạo dựng lấy sự nghiệp một cách nhanh chóng hơn.

 

THIÊN ANH TINH

Đinh Dậu cách: Dương liễu trước 著 sương (Sương bám vào cây dương liễu)

• Giải: Tác sự bất định động đa hoạn nạn (Làm việc không ổn định hoạt động gặp nhiều hoạn nạn)

* Sương móc dễ tan, hàng đêm tích tụ lại vương bám vào cây, sáng mặt trời lên tiêu tan nhanh chóng, làm việc xây dựng sự nghiệp mà như sương móc thì không thể được bền vững ổn định, bám dựa vào một nơi nào đó mà bản chất không có đủ lực, thì cho dù có nơi nương tựa nhưng rồi cũng không được ổn định mà tự thân gặp phải hoạn nạn.

Đinh Hợi cách: Huyệt trung thủ 手 thú 獸 (Bắt thú vật ở trong hang)

• Giải: Xứ xứ thúc 束 phọc 縛 lưỡng vô dụng xứ (Có sức trói buộc nhiều nơi chốn, hai nơi không có công dụng)

* Lùa thú vào hang thì sẽ bắt được nhiều thú, nhưng hang cũng có nhiều ngõ ngách nên cũng xổng mất một số con, hoặc một số con thú không có ích lợi cho sự truy bắt, tuy có tài nắm bắt hoặc gây dựng hay tổ chức được nhiều công việc nhưng rồi cũng có một vài công việc làm mà chẳng có ích lợi hay có công dụng thiết thực.

 

PHÁN ĐOÁN:

• Thử mệnh cận quý hữu chiêm nhu vũ lộ tri âm, ngoại ngộ hội tế phong vân chi tượng, xạ nại ngũ hành bác tạp, biến thành tiêu sát 噍殺 , gia phong 家風 trung hạ vu 迂 hồi 回 tha đà 蹉跎, sự nghiệp yếu thanh nhàn vị đắc thanh nhàn, đồ danh lợi phản thất danh lợi, hoàn liễu 了 hứa đa nghiệp trái 債, thu liễu 柳 đa thiểu phong sương, hữu thoại bất tàng cơ, hữu sự bất nhẫn nại, xảo trung tàng xuyết thị xứ thành phi, bình sinh tài bạch thành tựa phong vân khứ như hải thuỷ, hảo thị thiên diệp đào hoa tú nhi bất thực, ngoại thị hữu dư nội thường bất túc, sinh nhai thành bại hư danh lộc hảo tựa Dương hoa tỉ mộc Qua 瓜

* Mệnh này gần kề quí nhân có xem ơn mưa móc thấm nhuần (của quí nhân) như là tri âm (hiểu, biết tiếng tăm của nhau), cái tượng gặp gỡ bên ngoài gió mây (tình cờ mà gặp), tại sao ngũ hành phức tạp lẫn lộn biến trở thành chua xót, nền nếp gia đình ở giữa trở về sau cứ quanh co lần lữa (trì trệ loanh quanh không dựng lại được cho gia đình sống có nền nếp sống), khi tạo dựng sự nghiệp rồi rất mong cần có được thanh nhàn thì lại chưa được thanh nhàn (vì chưa tạo được gia phong), mưu tính danh lợi ngược lại làm mất danh lợi, xong rồi trở về hứa hẹn mang nhiều nghiệp nợ, cây liễu mùa thu phải chịu ít nhiều sương gió, nói năng bộc tuệch không dấu diếm cơ mưu, gặp sự việc chẳng nhường nhịn, trong khéo léo chứa cái sự vụng về nơi đúng trở thành sai, đời sống bình thường tiền tài giống như mây gió bay đi như nước trôi ra biển, tốt tựa như là cây hoa đào ngàn lá mà không thật (hoa giả, tốt đẹp giả) bề ngoài (tưởng như) thấy có dư dả nhưng bên trong lại thường thiếu thốn chẳng đủ, sống bên đời thành, bại, danh, lộc tốt giống như hoa cây dương với gỗ cây dưa (luôn có hai mặt trái ngược nhau: một bên xù xì xấu xí, một bên trơn láng xinh đẹp).

 

Cách chung cho 06 giờ

YẾN TRANH OANH SÀO (Chim én dành tổ của chim oanh)

Bình sinh chú 注 định mã đầu vinh

Sự nghiệp khu khu 區區 bất dị thành

Tây bạn thị gia Đông bạn lập

Nam viên chủng liễu Bắc viên hưng

Hạc tùy nhạn trận tam xuân tảo

Yến đoạt oanh sào lưỡng xứ thành

Tá vấn thử thân hà xứ định

Bích vân lưu thủy nguyệt dương đình

 

Đời thường chuyên định vinh trước ngựa

Sự nghiệp mỏi mòn chẳng dễ thành

Bên Tây là nhà thành bên Đông

Vườn Nam trồng liễu Bắc xanh um

Hạc theo đàn nhạn ba xuân sớm

Én cướp tổ oanh hai nơi thành

Nếu hỏi thân này nơi nào định ?

Nước trôi mây biếc trăng trên sân

 

* Tuổi Bính cho 06 giờ Đinh: hai giờ Mão giờ Tỵ là tốt nhất, cuộc đời cứ bình yên tiến lên, giờ Mùi, Hợi trung bình, Sửu, Dậu xấu nhiều vất vả gian truân. Đời người ai cũng muốn chuyên chú định liệu cho đời mình được vẻ vang giầu sang, nhưng tạo dựng sự nghiệp sao vẫn cứ gặp nhiều khó khăn chẳng dễ dàng, mọi việc cứ loanh quanh làm bên này dựng bên kia cứ trái ngược theo ý muốn, rồi cũng phải ép mình ví như chim hạc cao quí cũng bay theo đàn nhạn tranh dành kiếm ăn tầm thường, thôi thì cứ để đời trôi như dòng nước trăng vẫn sáng như mọi chu kỳ.

 

HÀNH TÀNG

Bình sinh tái kiến sự đầu oanh 縈

Quái tiếu siêu siêu kỉ 幾 khứ trình

Nhược ngộ tri âm ca nhất khúc

Kinh thiên lập địa chấn gia thanh

 

Đời thường cứ thấy việc quanh co

Lạ cười xa xăm đường bao xa ?

Nếu gặp tri âm hát một khúc

Trời ngang đất dựng nổi tiếng nhà

 

CƠ NGHiỆP

Tổ kế sinh nhai sự khổ tân

Thùy tri thời thế hựu trùng tân

Yếu tri biệt lộ mưu chung thủy

Mạc tín sơ cuồng ngộ thử nhân

 

Nối nghiệp tổ kế sống khổ cực

Ai biết thế thời lại đổi mới

Cần biết đường khác tính trước sau

Chớ tin ngông cuồng lỡ mất thân

 

* Xây dựng sự nghiệp cứ thấy quanh co, nhìn đường dài phía trước mà cười ngao ngán, nếu cứ nối theo nghiệp tổ tiên ở quê nhà thì sống thật khó khó vất vả, phải thức thời thay đổi mà bỏ ra đi mưu tính kế khác, phải suy tính cho khóe chớ nghe xúi bậy mà mất tất cả, nếu may mà gặp người hiểu biết mình giúp cho, sẽ chân hưng lại nhà cửa mà thành đạt sự nghiệp.

 

HUYNH ĐỆ

Đường lệ phân phương bất ngộ thời

Nhạn hàng tam lưỡng các phân phi

Nhất thân vạn lý ngao du biến

Phương hứa Trần Lưu đắc sở y

 

Hoa Đường lệ thơm tho chẳng gặp thời

Đàn nhạn chia bay hai ba nơi

Một mình ngàn dặm rong chơi khắp

Mới hứa Trần Lưu được chốn nương

 

* Anh em sống trong gia đình trước khá giả nhưng không gặp thời, rồi chia nhau đi mỗi nơi riêng mình đi nơi xa ngàn dặm, rong ruổi khắp nơi lập sự nghiệp, sau rồi cũng sẽ có được nơi nương tựa.

 

HÔN NHÂN

Nhân duyên hảo tiếu uyên ương lữ

Túng đắc thành song hữu tự vô

Thả an mệnh phận tùy cơ hội

Cửu hậu vinh xương phúc bất cô

 

Duyên người cười tốt đôi bạn uyên

Có được thành đôi có tựa không

Hãy yên phận mạng theo cơ hội

Về lâu vui sướng phước không đơn

 

* Duyên phận vợ chồng phải để tự nhiên và chấp nhận yên phận theo cơ hội đưa tới, rồi về lâu sau này cũng được hưởng vui sướng cùng nhau mà không lẻ loi cô đơn.

 

TỬ TỨC

Phong đính hoa chi tam tứ đóa

Nghiêm sương 嚴霜 nhất quả tối thu thâm

Bán hoàng bán tử tường đầu ngoại

Lưu thủy lạc hoa hà xứ tầm

 

Gió gắn cành hoa hai ba đóa

Sương buốt một quả cuối mùa thu

Nửa vàng nửa tím ngoài đầu tường

Nước trôi hoa rụng tìm chốn nào ?

 

* Con có muộn cuối trung niên mới có được một mà cũng còn nửa tốt nửa không

 

THU THÀNH

Chính hảo kị ngưu tinh tẩu mã

Khởi tri khuyển phệ nhất trường 場 không

Lãng bình phong tức tri chu ổn

Nghi hướng sơn lâm thâm xứ thông

 

Tốt nhất cưỡi trâu cùng chạy ngựa

Biết đâu chó sủa một tràng không

Sóng yên hết gió chiếc thuyền ổn

Nên hướng núi rừng nơi chốn thông

 

* Năm Sửu năm Ngọ sức khỏe tốt an lành, năm Tuất thì tất cả mọi sự đời trở thành không, ra đi an lành không còn sóng gió chi trong cuộc đời nữa

 

QủE Số 25: HOẢ SƠN LỮ

BÍNH – MẬU

THIÊN LỘC TINH

Mậu Tý cách: Khai tôn 罇 tự chước 酌 (Mở bình rượu tự rót)

• Giải: Điều độ hữu phương tự đắc kì lạc. (Có phương hướng điều độ tự được an vui )

* Uống rượu để lấy cảm hứng vui vẻ nhưng tự tay mình rót lấy không để quá chén mất vui, sống trong đời biết tự chế giữ được sự điều độ nên tự có được sự an lành vui thích.

Mậu Dần cách : Tuyết thiên vọng nguyệt (Trời tuyết trông mong trăng)

• Giải: Gia tuy bần hàn tự đắc thanh nhàn chi phúc (Cảnh nhà tuy nghèo nhưng được hưởng phúc nhàn hạ thanh cao)

* Trời mưa tuyết trong mùa đông giá lạnh là một mùa khó khăn nhất trong bốn mùa, tượng trưng cho sự khốn khó, nay trời mưa tuyết mù mịt ở trong cảnh khốn khó mà vẫn trông mong nhìn trăng thì tự trong lòng dù trong hoàn cảnh khốn khổ vẫn tự có được niềm vui thiện mỹ.

 

THIÊN TÀI TINH

Mậu Thìn cách: Khát mã ẩm tuyền (Ngựa khát uống nước suối)

• Giải: Khốn đốn dĩ cực hốt phùng giai cảnh (Khốn khổ đến cùng cực đột nhiên gặp được cảnh tốt )

* Người ví như con ngựa chạy một quãng đường dài khổ nhọc để tạo dựng sự nghiệp đến khát khô kiệt sức như ngựa, cũng có bao kẻ kiệt lực chết khát giữa đường mà không đi đến đích, nay ngựa này lại gặp dòng nước suối uống thì giống như người gặp vận may bất ngờ, hoàn cảnh tốt đẹp giữa đường đời để có thể tiếp tục đi đến được đích vậy.

Mậu Ngọ cách: Viêm thiên chủng túc (Trời nắng nóng gắt trồng lúa)

• Giải: Mục tiền lao khổ nhật hậu bất ngu 虞 cùng phạp 乏 (Vất vả trước mắt nhưng mai sau không lo sợ thiếu thốn)

* Trồng lúa gặp phải năm trời nắng hạn, thì phải nổ lực cứu lúa không bị chết rất là vất vả khổ nhọc vô cùng để không bị thất mùa đói kém, nếu đã vượt qua được những khổ nhọc ấy, thì sự nghiệp gầy dựng được sẽ vững vàng mà không sợ sau này trong đời sống bị thiếu thốn nữa.

 

THiÊN HOÁN TiNH

Mậu Thân cách: Đại thử 暑 đắc sương (Nắng lớn được sương)

• Giải: Thịnh cực chi thời tiểu hữu phong ba (Lúc thời cực thịnh hay gặp sóng gió nhỏ)

* Trời vào tiết khí đại thử là thời điểm cực thịnh trong mùa hè, gặp phải sương móc tuy có làm giảm đi sự cực thịnh của nắng nóng, nhưng chỉ giảm đi rất ít chứ không như một cơn mưa, cũng như khi tạo dựng sự nghiệp, vào thời điểm cực thịnh có gặp phải đôi chút trở ngại nhỏ nhưng vẫn được thành đạt lớn trong cuộc đời.

Mậu Tuất cách: Hoàng hoa vãn tiết (Hoa vàng vào cuối tiết khí)

• Giải: Thao thủ 操守 kiên cố vãn cảnh ưu du 優游 (Giữ gìn bền vững cảnh già được nhàn nhã)

* Vãn tiết tượng trưng cho tuổi đã về già, hoa vàng tượng trưng cho sự thành công trong đời, cuối tiết mà vẫn giữ gìn cho hoa được nở vàng rực rỡ không bị héo tàn, nhờ giữ gìn được sức khỏe tốt nên tuổi về già vẫn được khỏe mạnh và hưởng cảnh già nhàn nhã an vui.

 

PHÁN ĐOÁN:

• Thử mệnh nhất đoàn 團 hoà khí mãn diện xuân phong, phùng nhân hữu huynh đệ chi tình, tác sự hữu phong vân chi chí, lượng 量 trường hiện 現 đoản thức trọng tri khinh, thiện châm chước 斟酌 hội điều đình 調停, hiểm nan trung nan khu giải 驅解, tân cần xứ hội kinh doanh, tính cấp tâm từ tâm vô lang 狼 độc, thảo ốc hạ thiết yếu 要設 cầm kì thi hoạ, bố 布 y thượng yêu đới kim ngọc tê hoan, nhất sinh chỉ yếu an bài hảo xạ nại đa hối 晦 trệ 滯, chỉ yếu kiên tâm lao 牢 thủ mệnh, tự nhiên xuân chí bách hoa thượng.

* Mệnh này là một nhóm hòa khí đầy mặt gió xuân, gặp người có cái tình anh em thân thiết, làm việc có chí khí rộng rãi như mây gió, ước lượng bề dài hiện ra bề ngắn, biết nặng hiểu nhẹ, giỏi làm việc gì cũng đắn đo kỹ lưỡng, khéo thu xếp cho công việc được ổn thỏa, trong gian nan hiểm trở biết ứng xử giải quyết, nơi nhọc nhằn cay đắng lại siêng năng khéo léo trong việc kinh doanh, tánh lanh lợi nhanh chóng, tâm hiền lành không tàn bạo hiểm độc, dưới nhà tranh bày ra đàn hát đánh cờ ngâm thơ vẽ vời, trên áo vải lại thích đeo vàng đính ngọc, một đời chỉ thích an bầy sao cho tốt, tại sao mà còn nhiều tối tăm mù mịt và ngưng đọng, chỉ cần bền lòng giữ vững mệnh, tự nhiên Xuân đến trăm hoa nở.

 

Cách chung cho 06 giờ

NHẠN TRỤC LOAN PHI (Nhạn đuổi loan bay)

Trùng sơn cao tủng 聳 xuất vân đoan

Phong nhạn cao phi trục phượng loan

Mạc oán hoàng kim trần thổ đắc

Tài phùng thanh nhãn quí hào 號 khan 看

Bình sinh chí khí như tùng bách

Bẩm tính cô cao ngạo tuế hàn

Tá vấn hoa khai thành thực 實 xứ

Nhất chi xuân sắc mãn lan can 闌干

 

Tầng núi cao vút vượt đám mây

Cây phong nhạn bay đuổi loan phượng

Chớ oán vàng kim vùi bụi đất

Gặp lọt mắt xanh người quí đãi

Đời thường chí khí như tùng bách

Bản tánh cô cao giỡn năm lạnh

Nếu hỏi hoa nở nơi thành quả

Cảnh xuân một cành đầy ngang dọc

 

* Tuổi Bính cho 06 giờ Mậu: sanh 02 giờ Thân và Tuất là tốt, 04 giờ còn lại đều phải chịu đựng vất vả khó nhọc thời còn trẻ, về sau từ trung niên trở đi mới khá. Là người có chí hướng cao ví như tầng núi cao vòi vọi vượt lên khỏi đám mây che phủ, trong đời sống phải đấu tranh chịu đựng nhiều gian nan khó khăn, vẫn giữ vững khí tiết thanh cao như cây tùng cây bách, chịu đựng cảnh sương tuyết giá lạnh mà vẫn xanh tươi, nhưng thời vận lúc trẻ chưa tới nên chưa thấy được thành công, sau nhờ gặp người quí hiển giúp đỡ đãi ngộ cho, từ đó mà vui mừng thành công có kết quả trong sự nghiệp.

 

HÀNH TÀNG

Hà ưu tự thiếu thành trung phá

Cập chí trung niên phá phục thành

Hữu lộc hữu tài hoàn vãn cảnh

Vô ưu vô lự lạc thanh bình

 

Lo gì thời trẻ thành trong phá

Kịp đến trung niên phá lại thành

Về già lại có tiền có lộc

Chẳng lo không nghĩ vui thanh bình

 

CƠ NGHiỆP

Sinh lai thanh khiết như tùng trúc

Đời sống trong sạch như tùng trúc

Bẩm chí năng vân nại 耐 tuế hàn

Bách niên cao xứ tĩnh trung khan 看

 

Cửu hậu hoàng kim tu mãn ốc

Chí khí lấn mây quen lạnh rét

Lâu sau nhà cửa đầy vàng bạc

Trăm năm chốn cao tĩnh mà xem

 

* Lúc còn trẻ xây dựng sự nghiệp khó khăn nhiều lần thất bại, nếu vẫn giữ vững ý chí và trong sạch, kiên trì cố gắng thì sau tuổi trung niên đến về già sẽ được giầu có và hưởng an nhàn.

 

HUYNH ĐỆ

Vân ủng 擁 trùng sơn nhạn thanh tí 柴

Cô hồng độc tự trú cô phố 浦

Đình tiền mạn 曼 trường thanh thanh trúc

Tái ngoại phong cao nhất tự vô

 

Mây che tầng núi lấp tiếng nhạn

Chiếc hồng đơn đậu nơi bến sông

Trước sân khóm trúc xanh dài rộng

Ngoài ải gió cao một chữ không !

 

* Anh em xa nhau, tự mình rời đi xa lập nghiệp, lập được nghiệp nhưng vẫn không gần anh em.

 

HÔN NHÂN

Thúy trúc bích ngô loan phụng lập

Kỉ đa xuân sắc liễu 繚 lan can 闌干

Dã hoa phương thảo doanh đình hạm 泔

Khước trục lam 藍 dư 輿 xuất viễn sơn

Trúc xanh ngô biếc loan phượng đậu

Nhiều bao xuân sắc quanh ngang dọc

Hoa dại cỏ thơm đầy sân giàn

Chạy đuổi xe xanh ra núi xa

 

* Vợ chồng tương xứng hòa hợp, cuộc sống vợ chồng đằm thắm nhẹ nhàng đến lúc cuối đời

 

TỬ TỨC

Chi đầu nhị quả yêu đào diễm

Vũ lộ phong hòa nhất quả nghi

Duy thị cô cao thử bất đắc

Phùng dương ngộ khuyển mộng thiên tê 西

 

Đầu cành hai quả đào xinh đẹp

Mưa móc gió êm một quả nên

Lo rằng đơn cao vói chẳng được

Gặp dê đón chó mộng trời tây

 

* Có hai con trai đều xinh đẹp, một gặp nạn vào năm Mùi hay năm Tuất, một được thành đạt khá.

 

THU THÀNH

Đạo 道 hiểm mã tiền quân bất tín

Nhược phùng trư vĩ dã tu phòng

Thử thời lộc tại sơn biên tảo

Song 囱 hữu kiên hoa vũ bất phương 芳

 

Đường nguy trước ngựa mi không tin

Nếu gặp đuôi heo phải phòng ngừa

Thời ấy hươu xong rồi ven núi

Mưa bên cửa sổ hoa chẳng thơm

 

* Vào tuổi già phải hết sức giữ gìn chớ coi thường về sức khỏe, nhất là cuối năm hay vận hạn Hợi phải đề phòng mọi sự việc có thể xẩy ra, lúc đó sẽ không còn hưởng được lộc trời cho nữa và mọi việc sẽ chấm dứt.

 

QủE Số 26: HOẢ ĐỊA TẤN

BÍNH – KỶ

THIÊN THUỶ TINH

Kỷ Sửu cách: Quật tàng 藏 phùng kim (Đào chỗ chứa giấu gặp vàng)

• Giải: Sở dục toại tâm vạn sự hưng thịnh (Được thỏa lòng mong muốn muôn việc đều hưng thịnh)

 

* Hết sức quyết ý chí tìm cách xây dựng cơ nghiệp như đi tìm nơi kho chứa giấu báu vật, may là tìm được và gặp được báu vật nên mọi việc đều xứng tâm vừa ý và thịnh vượng giầu sang.

Kỷ Mão cách: Cảo 藁 miêu đắc vũ (Mạ khô gặp mưa)

• Giải: Khốn nạn chi thời đắc ngộ cứu tinh (Lúc thời vận khốn đốn gặp được người cứu)

* Vào đời lúc còn trẻ gặp nhiều gian nan khổ cực không phát triển được như cây lúa bị khô héo, nhưng rồi sẽ gặp may có người giúp đỡ cho mà thành đạt như cây lúa non khô héo sắp chết gặp mưa.

 

THIÊN THAI TINH

Kỷ Tỵ cách: Lam 嵐 điền chủng ngọc (Ruộng triền núi trồng ngọc)

• Giải: Tích đắc âm công khả hưởng đại phúc (Chứa nhiều âm đức khá hưởng được phúc lớn)

* Cấy trồng trên ruộng ở triền núi rất khó khăn cực khổ thu hoạch ít, nay trên ruộng lại sinh ra ngọc thì thật là trời ban phước đức lớn mới có được.

Kỷ Mùi cách: Thu thiền minh 鳴 liễu 柳 (Ve mùa Thu kêu trên cây liễu)

• Giải: Hoạn nạn dĩ quá tiệm nhập giai cảnh (Đã qua cơn hoạn nạn tiến dần vào cảnh đẹp)

* Ve sầu sanh sôi nẩy nở vào mùa hè trong cuộc sống ngắn ngủi vài tuần, nay qua tới mùa thu mà vẫn còn sanh lực sống thì cuộc sống đã được kéo dài thêm, những hoạn nạn sẽ qua đi mà hưởng thêm thời gian tốt lành về sau.

 

THIÊN ƯU TINH

Kỷ Dậu cách: Mãnh 猛 hổ tuần sơn (Hổ khỏe mạnh đi tuần tra núi)

• Giải: Phấn 奮 lực tiến hành khủng phòng hữu hiểm (Gắng sức tiến hành e gặp nguy hiểm)

* Hổ dữ khỏe mạnh muôn thú đều khiếp sợ, nhưng nếu ỷ mạnh mà cứ tiến hành tới tới không dè chừng thì cũng có ngày gặp thợ săn mà mất mạng, không nên cưỡng ép quá sức tiến hành công việc sẽ gặp nguy hiểm.

Kỷ Hợi cách: Tỉnh để quan thiên (Ngồi đáy giếng xem xét trời)

• Giải: Kiến thức hiệp tiểu sở đắc vô kỷ (Kiến thức hẹp hòi kết quả không bao nhiêu)

* Ra đời với sự hiểu biết mà như ếch ngồi dưới đáy giếng, thì chỉ nhìn được một góc cạnh rất nhỏ trong cuộc đời, cho nên sự hiểu biết rất hạn hẹp, khó mà mong cầu được nhiều kết quả thành đạt.

 

PHÁN ĐOÁN

• Thử mệnh bán hư bán thực, hoặc trọc hoặc thanh, tục 俗 bất tục cô 孤 bất cô, phi tăng phi đạo, lũ 縷 Đông li 籬 bổ 補 Tây bích, ái đả cổ 鼓 khiêu 跳 bản 板, hội trước 著 bất tinh minh 精明, trầm 沈 mai 埋 chí khí, cô phụ 辜負 thông minh, tâm thân bất định, đa phá đa thành, nhược bất phá tổ li tông 宗 dã tu thiên di môn hộ, mộ 暮 trưởng Ngũ thai Bắc minh 溟, chiêu 昭 sinh Thiên thai Nam nhạc, nhược đắc bất hiểm bất trở, ám tật khả bảo 保 vô hung 凶 vô hiểm 險, tiền trình lịch đắc phong sương tảo, đa thiểu tư cơ đắc hiện thành.

 

* Mạng nầy là người nửa hư nửa thực, hoặc là đục hoặc là trong, trần tục chẳng ra trần tục (tục 俗: ham chuộng những cái vật dục của đời sống bình thường, mà bị người trí thức cao thượng chê đều gọi là tục) cô đơn mà chẳng ra cô đơn, không ra tăng ni cũng chẳng ra đạo sỹ, lấy cái hàng rào rách bên đông vá cái vách bên tây (giật gấu vá vai), thích đánh trống gõ phách nhẩy múa (thích ca hát), hấp tấp vội vàng không chu đáo kỹ lưỡng, chôn vùi chí khí, uổng phí thông minh, tâm và thân chẳng ổn định, thành nhiều bại cũng nhiều, nếu không phá hỏng cơ nghiệp của tổ tông, thì cũng phải ra rời quê quán, buổi sáng sinh ra ở Thiên thai núi Nam, buổi tối lại lớn lên ở Ngũ thai biển Bắc (phiêu bạt lang thang, một nơi ở cung Tiên một nơi ở đài Phật) nếu như được không gặp phải gian nan nguy hiểm, thì phải gánh chịu tật ngầm dấu bên trong người thì mới không bị hung dữ hiểm nghèo, lúc tuổi còn nhỏ bước đường phía trước phải trải qua nhiều sương gió, (rồi sau đó) ít nhiều cơ nghiệp riêng mới hiện ra thành đạt.

 

Cách chung cho 06 giờ

CÔ NHẠN THẤT QUẦN (Nhạn lẻ lạc bầy)

Viễn vọng năng thăng bách xích thê 梯

Đăng cao lực quyện 倦 hữu thùy tri

Tiêu ma luyến ái 戀愛 tam sinh tuyết

Phản phúc nhân tình kỉ 幾 cục kì 旂

Li tái thiên biên nhạn thất lữ

Tá xuân lân ngoại duẩn 筍 sinh chi

Sinh nhai nhược tiến trùng thành lập

Mãn chước kim tôn phiếm tử lan 蘭

 

Nhìn xa muốn lên thang trăm thước

Lên cao sức mỏi ai hay biết

Ba năm yêu mến tiêu mòn cả

Tình người lật lọng mấy ván cờ

Rời ải bên trời nhạn mất bạn

Mượn xuân bên ngoài măng nẩy cành

Nếu thấy kế sống thành lập lại

Rót đầy chén vàng chơi lan tím

 

* Tuổi Bính cho 06 giờ Kỉ: chỉ có hai giờ Sửu và Tỵ là khá giả ổn định tạo nên sự nghiệp, các giờ khác gặp nhiều gian truân vất vả lúc ban đầu về sau mới được an nhàn. Lúc thủa còn trẻ rất hăng say lập nghiệp muốn vượt lên cao, nhưng rồi lại không đủ ý chí mà vướng vào đam mê luyến ái như phần phán đoán làm tiêu mòn uổng phí mất tài năng, đề phòng bị lật lọng lường gạt, sau nếu cố gắng xây dựng lại thì cũng có được cuộc sống nhàn nhã an lành.

 

HÀNH TÀNG

Mãn viên yêu đào thượng vị khai

Đông phong tiên phóng nhất chi mai

Tuy nhiên ngạo tuyết năng sương cửu

Chung kiến dương hòa nhật hộ lai

 

Đào non đầy vườn còn chưa nở

Cành mai nở trước ngọn gió đông

Dù rằng đương cự lâu sương tuyết

Sau thấy ánh dương vào trong cửa

 

CƠ NGHIỆP

Phân phân 紛紛 tổ kế li nam bắc

Chính lí điền viên đông phục tê (tây)

Chung tri thế 世 tại tiêu diêu ngoại

Chẩm 怎 nại danh hi 希 lợi diệc hi

 

Rối bời tổ nghiệp rời Nam Bắc

Sửa lại ruộng vườn Đông lại Tây

Sau biết ở ngoài đời rong chơi

Tại sao danh ít lộc cũng ít

 

* Không giữ được nghiệp tổ, phải bôn ba tứ phí để gây dựng lại, nhưng rồi lúc trẻ cũng ham chơi nên về già cũng có tạo được đôi chút sự nghiệp riêng

 

HUYNH ĐỆ

Giang biên nhị nhạn phân nam bắc

Nhất chích cô phi phong vũ trung

Hồi thủ tịch dương đa thiểu hận

Dạ thâm ngư xướng oán tây phong

 

Bên sông hai nhạn chia Nam Bắc

Một chiếc lẻ bay trong gió mưa

Bóng chiều quay đầu ít nhiều hận

Đêm sâu chài hát oán gió tây

 

* Ít anh em sớm chia lìa nhau, dến cuối đời cùng còn xa cách với nỗi niềm hờn oán.

 

HÔN NHÂN

Hồng lục bạch tần thâm ảo xứ

Uyên hành nhất chích tự thê thê 淒

Thanh phong minh nguyệt lương tiêu vĩnh

Chẩm 枕 thượng thời văn đỗ vũ đề

 

Cỏ hồng tần trắng mờ sâu thẳm

Một cánh uyên bay tự lạnh lùng

Gió trong trăng sáng đêm sâu dài

Trên gối thì nghe chim quốc kêu

 

* Đời sống cô độc không vợ hoặc có cũng như không.

 

TỬ TỨC

Lưỡng đóa hoa khai nhất đóa hồng

Kí chi thiền kháo 靠 tống tây phong

Khởi kì trúc trưởng long tôn mộng

Tương kiến chung tư 螽斯 mãn hạm trung

 

Hai đóa hoa nở một đóa hồng

Ve nương nhờ cành tiễn gió Tây

Há phải trúc lớn mộng cháu rồng ?

Sẽ thấy cào cào đầy trong rào

 

* Con chỉ gái không trai, sống nương nhờ bên ngoài, nếu không con thì cháu nhiều như một bầy cào cào lau nhau đông đúc.

 

THU THÀNH

Bán thiên thố thượng khan khan 看 phát

Nhất tiễn thân truyền chính hảo âm

Chính thị Lưu lang phương đắc chí

Hà kì khuyển phệ hướng hoa âm

 

Trên nửa năm thỏ nhìn xem phát

Mũi tên loan truyền tiếng phải tốt

Chính ấy chàng Lưu đương đắc chí

Chó sủa nào hẹn phía bóng hoa

 

* Vào cuối đời giữa năm Mão có sự việc phấn phát vừa chí, làm được một việc gì khiến khá nổi danh, thì lúc ấy cũng như chàng họ Lưu về nơi tiên cảnh, chẳng cần phải nghe dư luận ồn lên như chó sủa thấy bóng hoa lay rụng.

 

QủE Số 27: TRẠCH THIÊN QUẢI

BÍNH – CANH

THIÊN THỦY TINH

Canh Tý cách: Cúc kính 逕 tầm Xuân (Tìm mùa Xuân trong hàng cúc)

• Giải: Chủ ý kiên định đại hữu sinh cơ (Chú ý bền vững sẽ gặp cơ hội tốt)

* Đi từng hàng từng dẫy hoa cúc để tìm mùa xuân là tìm sự tươi đẹp sáng sủa cho tương lai, khi đã chuyên chú vào một việc thì ắt sẽ có cơ hội để hành động, để xây dựng được sự nghiệp.

Canh Dần cách: Khô liên đắc lộ 露 (Sen khô được sương móc)

• Giải: Khốn khổ chi thời đắc nhân phù trì (Lúc khốn khổ gặp được người giúp)

 

* Cây sen sống dưới nước mà còn bị khô héo thì gặp phải thời khó khăn gian nan nhiều, nay gặp được sương móc để thoát qua thời kì kiệt quệ, cũng như người bị lâm vào tình cảnh vô cùng quẫn bách mà được sự giúp đỡ thì có cơ hội gây dựng lại được.

 

THIÊN QUAN TINH

Canh Thìn cách: Thu đê 隄 dương liễu (Mùa Thu cây dương liễu trên bờ đê)

• Giải: Vãn cảnh bình bình (Cảnh già bình thường)

* Mùa thu vào cảnh xế chiều sắp về già, cảnh tượng cây dương liễu trên bờ đê vào mùa thu cũng vừa là cảnh đẹp vừa là cảnh hiu quạnh buồn, nên về tuồi về già cũng chỉ bình thường không tốt chẳng xấu, chỉ có điều cảnh tượng êm đềm trong lặng lẽ.

Canh Ngọ cách: Đãi phong giá 架 phàm (Đợi gió giương cánh buồm)

• Giải: Đãi thời nhi 而 động vô vãng 往 bất lợi (Đợi thời mà hành động bất cứ việc gì cũng có lợi)

* Thuyền có buồm là thuyền lớn, chuyên chở được nhiều hàng hóa để đi xa buôn bán, nếu chèo thì mất rất nhiều sức, nếu gặp nước ngược càng tốn sức mà không có kết quả, điều kiện đã có sẵn, chi bằng chỉ cần chờ thời, gặp gió mà giương buồm lên sẽ đến đích được lợi lộc ngay.

 

THIÊN BÍNH TINH

Canh Thân cách: Phong lí 履 dương hoa (Gió thổi dập hoa dương)

• Giải: Căn cơ thiển bạc nhi phòng hoạn nạn (Căn cơ mỏng manh đề phòng hoạn nạn)

* Hoa dương liễu cánh nhỏ vốn đã mỏng manh, nay còn bị cơn gió dữ dầy xéo cuốn bay đi, thì như đời người căn cơ vốn đã được không bền vững, còn gặp phải hoạn nạn nếu không tránh khỏi khó mà gượng dậy được, ra đời cố tránh làm những việc nguy hiểm.

Canh Tuất cách: Tằng 層 băng kiến nhật (Từng lớp băng thấy mặt trời)

• Giải: Thiên tân 辛 vạn khổ chung hữu đắc ý chi nhật (Muôn đắng ngàn cay cuối cùng cũng có ngày đắc chí)

* Bị vùi lấp dưới nhiều từng băng giá buốt lạnh, phải chịu bao nhiêu là cay đắng nhọc nhằn, nếu vẫn có ý chí vững mạnh, cho dù phải trải qua cay đắng cực khổ nhiều, rồi cũng sẽ nhìn thấy ánh sáng mặt trời, sẽ thành đạt được trong sự nghiệp.

 

PHÁN ĐOÁN:

• Thử mệnh tâm tính bất thường dị 易 sân dị hỉ, tinh 精 lực xứ phản tắc 謖 tằng 曾 đằng 縢 , hiện thành xứ biến tác ân cần 殷勤 , mục hạ vô ưu tâm bất tự tại, tuy nhiên 雖然 nhất cá hảo tư cơ 鎡基 , thụ 受 quá hứa đa ma 磨 nan 難 xứ, đa phá thiểu thành chiêu thị chiêu phi, thê phi sinh thiết 鐵 thuần cương, định kiến tiền cô 孤 hậu quả 寡, đầu nam vị đắc mạt 末 tử khả thụ 受, bài bố hữu tinh thần, ban ban thân thủ tố, tiên nan hậu dị tâm bất tai 思 mang.

* Mệnh này tâm tánh không bình thường, dễ thay đổi mừng vui dễ cáu giận, nơi việc làm chu đáo kỹ lưỡng lại nổi lên thành bó buộc vướng vít, chốn hiện thành đổi làm thân thiết hậu hĩ (làm việc lúc đầu chu đáo kỹ lưỡng thì bị vướng mắc khó khăn và bị bó buộc, khi việc đã hiện ra thành rồi lại được chu đáo đón tiếp ân cần), việc dưới mắt không lo nghĩ, (nhưng) trong lòng không ổn định, dù vậy (vẫn có) một cái vốn liếng tài sản riêng tốt, nơi dã qua chịu đựng khá nhiều khó khăn gian nan hiểm trở, phá nhiều thành ít tự chiêu vời đúng sai, nếu vợ chẳng phải là sắt thuần cứng (mệnh của vợ phải cứng như sắt thép mới chịu nổi, số khắc vợ chồng) ắt định thấy trước sau sẽ là góa bụa, con trai đầu không được con cuối có thể được, có tinh thần bày biện bố trí mọi sự việc tự tay làm, trước khó sau dễ lòng hoang mang nghĩ ngợi không ổn định.

 

Cách chung cho 06 tuổi

THiÊN TẾ 際 CÔ HỒNG (Chim hồng lẻ loi ở chân trời)

Bách xích can 竿 đầu tiến bộ 步 nan

Bán sinh hương tỉnh 鄉井 kị 曁 điêu 凋 tàn

Nhạn phi thu thủy hàng hàng đoạn

Hoa phát xuân lâm điểm điểm ban 班

Thành lập yếu phùng thanh nhãn thị

Bôn trì tu chí bạch vân san

Công danh lưỡng tự chung tu tại

Chỉ khủng thân nhàn tâm vị nhàn

 

Trăm thước đầu cây thật khó bước

Nửa kiếp làng quê đến nát tan

Nước thu nhạn bay từng hàng đoạn

Rừng xuân hoa nở chia lốm đốm

Dựng nghiệp rất cần mắt xanh gặp

Ruổi rong lên đến núi mây trắng

Công danh hai chữ sau còn đấy

Chỉ sợ thân nhàn tâm chẳng nhàn

 

* Tuổi Bính cho 06 giờ Canh: hai giờ Ngọ và Tí là tốt nhất dễ thành đạt, Thìn trung bình, DẦn Thân Tuất nhiều vất vả gian nan. Ra đời lúc còn trẻ rất khó khăn trong lập nghiệp, cơ nghiệp của ông cha đã nát tan, phải rời bỏ đi xa tự tạo lấy thì mới gây dựng lại được, không thể nhờ cậy gì được sự nghiệp đã có của ông cha để lại,

 

HÀNH TÀNG

Ấu niên sinh kế vị toàn thành

Kiến thử phùng long chính hiển vinh

Tự hữu cao nhân khinh tá lực

Lưỡng trùng môn hộ tự quang hanh

 

Tuổi trẻ kế sống chưa vẹn toàn

Gặp chó gặp rồng mới hiển vinh

Tự có người trên nhẹ tay giúp

Hai lần lớp cửa tự sáng thông

 

CƠ NGHiỆP

Bách xích can đầu tiến bộ trì

Phân phân tổ kế cánh 更 trùng li

Kỉ hồi trừ đoạn căn cơ lộ

Mạc 邈 địa phùng xà tiệm lập cơ

 

Trăm thước đầu cây tiến bước chậm

Rối bời kế nghiệp lại rời đổi

Mấy phen đứt rời đường nền gốc

Đất xa gặp rắn dần dựng nghiệp

 

* Lúc tuổi còn trẻ tổ nghiệp đã không còn thịnh vượng, phải li hương rời xa làng quê để lập nghiệp, nhưng gặp nhiều gian nan khó khăn không tiến được, tới năm hay vận Tỵ đã khởi đầu vào vận tốt, qua năm Tuất Thìn có người đến giúp đỡ, từ đó sự nghiệp mới dần hiện ra và vinh hiển công danh.

 

HUYNH ĐỆ

Tu tri tam nhạn đồng phi hạ

Nhất chích ưng 膺 thu tại võng la

Chử 渚 đậu 逗 bất tu cơ tiến hỏa

Hồi tư tứ hải ngộ phong ba

 

Nên biết ba nhạn cùng bay xuống

Một chiếc bị đánh rơi vào lưới

Bãi đậu không cần đốt mồi lửa

Nhớ lại bốn biển gặp sóng gió

 

* Ba anh em cùng nhau đi, âm thầm hẹn nhau kín đáo, một người bị vướng mắc ở lại, khi đã được yên ổn rồi, nhớ lại thời gian trên biển gặp nhiều sóng gió.

 

HÔN NHÂN

Lục chiểu song liên hoa phát xứ

Hồi đầu hoạt kế báo quân tri

Vân nhàn thiên lí nguyệt quang hiệu 皎

Vãn cảnh uyên ương đắc sở nghi

 

Nơi ao xanh đôi hoa sen nở

Quay đầu sanh kế báo ngươi biết

Ngàn dặm mây nhẹ trăng trắng sáng

Cảnh muộn uyên ương được chốn yên

 

* Kết hôn muộn, hôn nhân được an lành tốt đẹp.

 

TỬ TỨC

Tường biên tam đóa đào hoa phát

Nhất đóa khán quan tạ bất lao 牢

Chỉ đãi thu phong sinh quế tử

Thanh vân phức 皎 húc 畜 mãn giang cao

 

Bên tường ba đóa hoa đào nở

Một đóa nhìn xem chẳng được bền

Chỉ đợi gió thu sanh quả quế

Thơm nức đầy sông tới mây xanh

 

* Nhiều con gái có trước, một con gái không được bền khỏe mạnh, sau có được con trai quí hiển.

 

 

THU THÀNH

Hạn vận nhược phùng Thìn dữ Tuất

Quý Đinh thái tuế bất đồng hòa

Trùng trùng nguy hiểm lâm đầu thượng

Bất thiệp quan tai tài phá đa

 

Nếu vận hạn gặp Thìn cùng Tuất

Năm Quý năm Đinh chẳng cùng hòa

Nhiều lần nguy hiểm tới trên đầu

Nếu không hình sự tốn nhiều tiền

 

* Những năm Quý Đinh và vận hạn Thìn Tuất phải hết sức cẩn thận đề phòng, mọi tai biến gnuy hiểm dồn dập tới ngay trên đầu, hãy lui về ẩn thủ để bảo toàn

 

QUẻ Số 28: HOẢ THIÊN ĐẠI HỮU

BÍNH – TÂN

THIÊN THOÁI TINH

Giờ Tân Sửu: cách MiNH NGUYỆT MAi HOA

Dịch: Hoa mai trăng sáng

Giải: Nhất sinh đắc hưởng thanh nhàn chi phúc

Dịch: Trọn đời được hưởng phúc thanh nhàn

* Trăng sáng ngắm hoa mai, vừa đẹp vừa thanh cao quí phái, có phúc mới được vậy.

Giờ Tân Mão: cách KHÔ MỘC PHÙNG XUÂN

Dịch: Cây khô gặp mùa Xuân

Giải: Khốn đốn dĩ quá đại hữu sinh cơ

Dịch: Đã qua khỏi khốn khổ có nhiều cơ may

* Cây bị khô héo mà không chết vẫn còn lực, chỉ chờ qua mùa xuân sẽ đâm chồi nẩy mầm, trong đời phải trải qua một thời kì gian nan khốn khó rồi mới qua được cảnh tốt lành.

 

THIÊN HỐI TINH

Giờ Tân Tị: cách PHONG TiỀN ĐiỂM CHÚC

Dịch: Đốt đuốc trước gió

Giải: Hảo cảnh bất thường tu phòng hoạn nạn

Dịch: Cảnh đẹp không thường đề phòng hoạn nạn

* Đuốc cháy trong đêm nhìn cũng sáng đẹp, nhưng gặp gió thì mau tàn mau tắt, nên cảnh tốt đẹp trong đời không được thường xuyên, lúc sáng lúc tối, lúc lên lúc xuống …

Giờ Tân Mùi: cách THU THiÊN CÔ NHẠN

Dịch: Nhạn lẻ vào mùa thu

Giải: Chung niên chi hậu tái sự cô lực vô viện

Dịch: Từ tuổi trung niên trở về già làm việc cô đơn không ai trợ giúp

* Nhạn theo bầy theo đàn còn nương tựa lẫn nhau, nhạn đã tách bầy vào mùa thu cây cỏ héo tàn, là mùa các loài côn trùng đã không còn sinh sôi nhiều nữa, còn tương trưng là tuổi trung niên, sẽ bị lẻ loi cô đơn không người trợ giúp.

 

THIÊN THAI TINH

Giờ Tân Dậu: cách CHỈ THUYỀN NHẬP HẢi

Dịch: Thuyền giấy vào bể

Giải: Bất tự lượng lực hữu bại vong chi tượng

Dịch: Không biết lượng sức mình đó là điềm thất bại

* Thuyền làm bằng giấy thì đẹp đẽ sang trọng vì bề ngoài, chỉ trưng bày trong các lễ lộc ở sông hồ cho vui mắt, nay không tự lượng sức mà đi vào biển lớn, chỉ một hai cơn sóng vỗ sẽ vỡ tan ngay.

Giờ Tân Hợi: cách DU NGƯ NHẬP VÕNG

Dịch: Cá rong chơi sa vào lưới

Giải: Tự đầu la võng uổng phí tâm cơ

Dịch: Tự chui vào lưới uổng phí tâm cơ

* Ham chơi ra ngoài rong ruổi tìm vui ắt có ngày mang họa vào thân.

 

PHÁN ĐOÁN

* Thử mệnh hữu cơ mưu thủ đoạn, hữu tiền hựu dụng hữu sự hội vi, chỉ nhân mệnh phạm thoái thần hung, bằng nhĩ thiên ban tu toán khởi, sấn đắc thiên tiền tịnh vạn quan, bán dạ tân cần chỉ lạc đắc thủ mang cước loạn, nhược yếu thập toàn trùng trùng cải hoán, chỉ nhân bát tự kiên lao, túng hữu hung tai giảm bán, lão niên thắng tự thiếu niên, hậu đoạn cường như tiền đoạn, nhược phùng thuỷ thành thân, phương thị linh tinh hảo nam tử.

 

* Mệnh này có toan tính biến đổi khôn khéo, làm việc sớm có công dụng gặp việc cùng nhau gây dựng lên, chỉ vì nguyên nhân mệnh phạm phải thoái thần xấu, anh nhờ cậy dựng lên khắp nơi để tính toán, được dịp lấn tới lấy ngàn đồng tiền vạn đồng quan (chớp lấy thời cơ), nhọc nhằn siêng năng đến nửa đêm chỉ thu được tay mỏi chân loạn (lo toan quá không hiệu quả), nếu muốn mười phần toàn vẹn thì phải luôn luôn thay đổi (cách thức làm việc), chỉ vì có tám chữ bền vững, ví có hung hiểm tai họa cũng giảm đi một nửa, tuổi già được giống như tuổi trẻ (khỏe mạnh nhanh nhẹn), đoạn sau mạnh như đoạn trước, nếu gặp nước thì thành thân, lanh lẹ tinh tế sáng suốt thế mới là người đàn ông giỏi tốt.

 

*Thủ đoạn: là cách làm việc khôn khéo có tính toán trước sau phù hợp với hoàn cảnh thực tế để nắm chắc thành công. Thủ đoạn là phương pháp làm việc của cá nhân biết quyền biến ứng phó với thực tế, không giáo điều, biết chấp kinh mà cũng biết tòng quyền. Chữ thủ đoạn thường bị gán cho một ý xấu là đầy mánh khóe, mưu mẹo để lừa gạt người, dám làm mọi việc để đạt tới mục đích với quan niệm “cứu cánh biện minh cho phương tiện”. Nghĩa chữ, thủ đoạn là chính tay mình cắt đặt ra để nói lên tính chất chủ động của người làm. Chữ thủ đoạn còn có nghĩa là nắm chặt lấy mục đích của từng giai đoạn, đi từng bước một thật vững chắc, hoàn tất từng phần của toàn bộ kế hoạch để thành công trọn vẹn. Ðem so sánh với phương pháp thì phương pháp là cách làm việc theo tiêu chuẩn khoa học, theo khuôn mẫu do đó nặng giáo điều, không uyển chuyển phù hợp cho từng trường hợp đặc thù của thực tế phức tạp.

 

Cách chung cho 06 giờ

HẠC LẬP THANH TÙNG (Chim hạc đậu trên cây tùng xanh)

Thanh tùng yển kiển nại xuân thu

Bạch hạc phi lai lập thụ đầu

Tính ngạnh tuyết sương tằng chiết tỏa

Khí thanh đào lý bất đồng trù

Lục thân tình ái phù vân tán

Nhất thế tư tài giảm bán lưu

Phân phó hậu viên tang đố thụ

Lục âm lưu bạn hỉ ưu du

 

Tùng xanh ngạo nghễ chịu xuân thu

Hạc trắng bay về đậu đầu cây

Tánh ngang từng bị sương tuyết bẻ

Khí trong chẳng cùng loài đào mận

Gia quyến tình thân như mây nổi

Một đời tài sản còn phân nửa

Dặn dò sau vườn cây dâu đứng

Bóng xanh giữ bạn vui nhàn nhã

 

* Tuổi Bính cho 06 giờ Tân: Tốt nhất là giờ Sửu, giờ Mão trước khổ sau thành đạt, giờ Tị trong cảnh tốt chưa chắc đã được lâu dài, giờ Mùi, Dậu, Hợi đều xấu. Là người có chí khí cao, lập chí kiên cường và chịu dựng giỏi, khó bị khuất phục, siêng năng cần mẫn trong công việc, sức khoẻ về già dẻo dai nhàn nhã, tuy nhiên thiếu hạnh phúc gia đình, cuối đời tạo dựng được gia sản

 

HÀNH TÀNG

Lai vãng Đế kinh bách lý san

Chung tu đắc lộ đáo Trường An

Lưỡng trùng vinh lộc đa tri kỉ

Chỉ tiếu tang du tùng trúc gian

Qua lại kinh đô trăm dặm núi

Sau cùng có đường đến Trường an

Hai tầng vinh lộc nhiều bè bạn

Bóng dâu tùng trúc cười vui thoả

 

CƠ NGHiỆP

Thanh tùng bách xích lăng vân hán

Kháo thạch y nham ổn xứ an

Vạn lý giang sơn đa thiểu hận

Qui lai đàn kiếm thán gian nan

Tùng xanh trăm thước lấn tầng mây

Nương nhờ ven núi sống yên lành

Muôn dặm non sông ít nhiều hận

Lui về múa kiếm than gian nan

 

* Nuôi chí cao kiên trì thi thố và thử thách, vận chưa đến nên phải nương nhờ nơi thôn dã vất vả thao luyện tài năng, trải nhiều thăng trầm thất bại rồi cũng có ngày thành đạt nhờ chí khí kiên cường, về già vui thú thanh nhàn danh lộc thoả mãn.

 

HUYNH ĐỆ

Thiên khoát nhạn hoành thu thủy viễn

Phân phân bố trận thế thiên nan

Cô phi độc hướng Tiêu tương khứ

Hồng lục bạch tần khô hậu hoàn

Trời rộng nhạn ngang nước thu xa

Rối bời bày trận thế thật khó

Bay riêng hướng về sông Tiêu tương

Cỏ xanh tần trắng khô rồi tươi

 

* Anh em tuy nhiều nhưng không hoà hợp, một mình bỏ đi riêng tạo dựng lấy cơ nghiệp, dòng đời trôi nổi xuân qua đông lại như cỏ tươi rồi khô.

 

HÔN NHÂN

Kiến ngẫu đương thời nhật trác ngọ

Nhược phùng bạch thủ dã nan kì

Vân gian thiên lý đồng minh nguyệt

Âu lộ phân phân mãn ngẫu trì

Đứng bóng mặt trời gặp phối ngẫu

Đợi khi đầu bạc khó mong chờ

Trong mây muôn dặm cùng trăng sáng

Bên ao cò cốc chen vai đứng

 

* Lúc còn trẻ nếu gặp tơ duyên nên kết hôn (nhật trác Ngọ khoảng ngoài 30), chờ khi công danh sự nghiệp thành thì đầu đã bạc, lúc bấy giờ muốn tính đến hôn sự khó mà thành.

 

TỬ TỨC

Chi thượng nhị tam hoàng bạch quả

Tu lưu nhất quả tại lâm tiền

Đình tiền quế tử hương do viễn

Thử thị tiền sinh kết thiện duyên

Cành cao hai ba quả vàng trắng

Nên để một quả ở trước rừng

Trước sân quả quế thơm còn xa

Ấy là kiếp trước có duyên lành

 

* Có nhiều con trai, có một con trai quí hiển gần gũi hiếu thảo là nhờ có thiện duyên.

 

THU THÀNH

Nhược kiến khuyển ngưu hành thủy trung

San hô hải để phí nhân công

Tiên kiều cao khóa ngưu dương quá

Nhân hướng tây hồ dương liễu phong

Nếu thấy trâu chó đi trong nước

San hô đáy biển uổng công tìm

Cầu tiên cao cưỡi trâu dê quá

Người hướng tây hồ gió dương liễu

 

* Vận đến năm (Nhâm, Quí) Sửu Tuất nên cẩn thận về sức khoẻ, năm Sửu Mùi khó thoát cảnh sinh tử.

 

QUẺ SỐ 29: HOẢ THỦY VỊ TẾ

BÍNH – NHÂM

THIÊN PHÚ TINH

Giờ Nhâm Tý: NGƯU Miên Thảo ĐỊA

Dịch: Trâu ngủ trên đồng cỏ

Giải: Nhất sinh an ổn vô y thực chi ưu

Dịch: suốt đời an ồn không phải lo cơm áo

Giờ Nhâm Dần: CHỦNG THỤ THÀNH LÂM

Dịch: Trồng cây thành rừng

Giải: Sở tác sự nghiệp khả vọng thành công

Dịch : Xây dựng sự nghiệp sẽ thành công lớn

 

THIÊN PHỦ TINH

Giờ Nhâm Thìn: XUÂN OANH XUẤT CÕC

Dịch: mùa xuân chim oanh ra khỏi hang

Giải: Tên nguy hậu an vãng cảnh ưu du

Dịch: Trước nguy sau an cảnh gia nhàn hạ

Giờ Nhâm Ngọ: HOẠi TƯỜNG DẠ VŨ

Dịch: Mưa đêm làm đổ tường

Giải: Tuy hữu hoạn nạn vô hại ư sự

Dịch: Dù có hoạn nạn nhưng không hại đến công việc

 

THIÊN TAI TINH

Giờ Nhâm Thân: KiỆP DiỆP KiẼN HOA

Dịch: Bươm bướm gặp hoa

Giải: Đắc chí thời tu phòng thu nhbp tà đồ

Dịch : Lúc đắc chí nên đề phòng đi vào con đường tà

Giờ Nhâm Tuất: PHi LONG TẠi THiÊN

Dịch: Rồng bay trên trời

Giải: Cư cao lâm hạ phòng hữu nguy hiểm

Dịch: Trên cao xuống thấp nên đê phòng gặp nguy hiểm

 

PHÁN ĐOÁN:

• Thử mệnh bản tính hành sự nhiệt tâm, Dĩ hữu sự nghiệp, Phiên 番 biến đương thành bất thành, Danh lợi ta đà, Khả tố bất tố, Kỷ phiên ân lý 理 thành oán, Mỗi hướng thành trung kiến phá, Ba đắc hiện thành biến canh dĩ quá, Bách kế thiên phương, Thóai thần nhất cá, Tai sự như cấp phòng hành thuyền, Cầu tài ảo lư suy ma, Giả bất nhẫn hàn giả bất nại cơ, Đương ngộ xích diện quý nhân tinh, Chỉ lạc đắc bán diện tiếu trung hòa, Nhược thị biệt xứ thành, Tu phòng tổ nghiệp phá, Văn cảnh đương thung dung, Phong sương tiên kiến quá (Mệnh này tánh có sẵn là làm việc gì cũng có nhiệt tâm, đã có sự nghiệp, lần lượt biến đổi “việc” đang thành lại trở nên không thành, danh và lợi gập ghềnh trắc trở, đẹp mà lại chẳng đẹp, nhiều lần trong cái lý làm ơn mà trở thành oán giận, mỗi khi có cái hướng thì trong cái thành lại thấy phá hỏng, khi mà nắm được cái đã hiện thành rồi thì việc lại biến đổi qua cái khác, trăm kế hoạch ngàn phương tiện một cái thoái thần, làm việc như thuyền trong gió gấp, cầu tài như giống làm con lừa đun đẩy “chậm chạp”, vậy mà không chịu được đói và lạnh, đang gặp quý nhân mặt đỏ, chỉ được vui nửa mặt cười hoà nhã, nếu thành công ở nơi xa khác, nên phòng phá mất nghiệp tổ tiên, cảnh già nhận được sự nhàn nhã, “nghĩ lại” đã trải qua bao nhiêu là sương gió )

 

(Cách chung cho 6 giờ)

SƠN ĐỈNH HÀN TÙNG Cách

Liễu nhà vô câu thúc

Hàn tùng bóng tu trúc

Sinh nhai trùng chỉnh đốn

Thân tình đa đoan tục

Cầm đàn nhị điêu huyvèn

Phong xây điệp điệu khúc

Ngưỡng khán bích đào hoa

Hoa khai diệp tái lục

 

Dịch: TÙNG LẠNH TRÊN ĐỈNH NÚi

Hoa liễu không bị ràng buộc

Cây tùng lạnh Ờ bên cây trúc già

Nên chỉnh đốn lại kẽ sinh nhai

Thân tình thường đứt nổi

Phiếm đàn có hai dây

Giỏ thổi thành khúc điệu khác

Ngửa mặt xem hoa bích đào

Hoa nó rồi tôi xanh (biếc)

 

HÀNH TÀNG (Sự Nghiệp)

Nhân tại quỳnh lâm mông yến thưởng

Phân khai ngưu giác thượng thiên thê

Lưỡng trùng âu lộ tòng thiên giáng

Tích thiện lưu phương phúc lộc tề

Dịch:

Người được mời đến Quỳnh lâm dự yến tiệc

Chia cách sừng trâu Ờ trên thang mây

Hai lần được ân huệ từ trên Trời xuống

Làm việc thiện để đời thì gồm cả phước và lộc

 

CƠ NGHiỆP (Cơ nghiệp)

Phân phân tổ kẽ tiên ưu tổn

Tuy hữu lưu di khối trị tiền

Nhược ngộ ngủ hồ minh nguyệt hạ

Bất phương tái cử điều ngư thuyền

Dịch:

Rối rít nghiệp tổ trước bị hao tồn

Dù có để lại nhưng giá trị không đảng bao nhiêu

Ở nơi Ngủ Hồ nếu gặp đêm trong sáng

Nếu lại bơi thuyền cầu cũng chẳng hại gì

 

HUYNH ĐỆ (Anh em)

Hàng nhạn song song đa thất lữ

Các phân nhất chích hướng nam san

Vãng lai giang thượng thu ngư võng

Tích thính thân chung quá ngọc quan

Dịch:

Đàn nhạn bay cặp đôi nhiêu khi lạc bạn

Chia lìa một con hướng về phía núi phương nam

Chiều về thu lưới Ở ven sông

Lúc yên tĩnh lắng nghe tiếng chuông vắng ở Ngọc quan

 

 

HÔN NHÂN (Vợ chồng)

Vân thiên dạ vĩnh nguyệt phương xuất

Nhật mộ sơn thâm cảnh tịnh nhiên

Hạc lệ nhất thanh kinh mộng giác

Tiêu tiêu phong vũ bất thành thiên

Dịch:

Trời mây đêm khuya trang mới ló

Đêm tối núi sâu cảnh tịch mịch

Một tiếng hạc kêu làm tỉnh giấc mộng

Gió mưa rã rích ngủ không được

 

TỪ TỨC (Con cải)

Phong xậu hoa tàn xuân tân xứ

Độc lưu nhất quả ỷ chúi đầu

Tu tằng âm đức tài bồi lực

Chung kiến thừa ân đãi miện lưu

Dịch:

Gió mạnh hoa tàn xuân đã hết

Chỉ còn một quả vướng vất đầu cành

Nếu cố vun trồng nhiều âm đức

Rồi sẽ được ơn trời đãi ngộ mủ miện có giải

 

THU THÀNH (Hãn cuộc)

Lão lai chính tại vinh hoa nhật

Nhược tri Dần Thân Tý Ngọ hưu

Viên hạc qui lai lâm ốc hạ

Thanh phong minh nguyệt tự ưu du

Dịch:

Lúc về già chính là lúc vinh hoa

Nếu đến các năm Tý Ngọ Dần Thân thì nên nghỉ

Vượn hạc trở về dưới mái rừng

Trăng sáng gió trong tha ho ngao du

 

QUẺ SỐ 30: HỎA SƠN LỮ

BÍNH – QUÝ

THIÊN TRIỀU TINH

Giờ Quý sửu: XUÂN ĐÊ DƯƠNG LiỄU

Dịch: Dương liễu trên đê mùa xuân

Giải: Tảo niên giao vận đơn lập chí nghi kiên

Dịch: Tuổi trẻ đã gặp giao vận phải lập chí cho bền

Giờ QÚY MÃO: HÀN ĐÀN HẠ ĐiẼU

Dịch: Đàm lạnh thả câu

Giải: Tác sự tân khổ hoạch lợi vô cơ

Dịch: Làm việc thì lao khổ kiếm lợi không bao nhiêu

 

THIÊN PHÁ TINH

Giờ Quý Ty: CƠ ĐiỂU ĐẦU LÂM

Dịch: Chim đói nương vào rừng

Giải: Tri tắc cùng khốn thượng hữu chi bạn

Dịch: Dẫu rang cùng khốn còn có chỗ nương tựa

Giờ Quý Mùi: PHÁ VÕNG BỐ NGƯ

Dịch: Lười rách bắt cá

Giải: Hy vọng thậm đại nhất sự vô thành

Dịch: Hy vọng lớn lao mà một việc cũng không thành

 

THIÊN LOAN TINH

Giờ Quý Dậu: CAO LÂU VỌNG NGUYỆT

Dịch: Đứng trên râu nhìn trăng

Giải: Khả vọng viên mãn chi kết quả

Dịch: Có hy vọng thấy kết quả tròn đầy

Giờ Quý Hợi: ĐÀi TiÊN ĐẮC VÕ

Dịch: Rong rêu gặp mưa

Giải: sự nghiệp tuy tiểu hoạch lợi thậm đại

Dịch: sự nghiệp tuy nhỏ nhưng được lợi rất nhiều

 

PHÁN ĐOÁN:

Thử mệnh kinh phong thiệp lãng, Độ thủy xuyên sơn, Khâm hoài khảng khái 慷慨, Cốt cách 骨格 thanh kỳ, Hội thụ dụng 受用 năng thi vì, Chỉ nhân tính cương tâm trực, Tằng kinh thị xứ thành phi, Háo tán tư tài, Quan hình thóai phục, Minh linh chân thị tử, Tiếp tục nãi thành thân, Đệ huynh như mạch lộ, Bằng hữu phản tri âm, Nhược yếu thập toàn túc, Long xà hữu tập chân, (Mệnh này trải qua sóng gió, lội qua nước xuyên qua núi, trong lòng nhiều hăng hái hoài bão, tính cách tinh thần thanh cao, khéo hưởng thụ tiêu dùng hay thi thố, chỉ vì tánh cứng tâm thẳng, từng trải nơi phải thành trái, tiền tài hao tốn, quan hình lùi phục xuống “không bị vướng vào quan hình”, con tò vò con mới là con “con nuôi”, nối tiếp lại thành thân, anh em như “khách ngoài” đường lộ, bạn hữu lại trở thành tri âm, nếu cần đủ mười phần đầy đủ toàn vẹn, “thì phải” rồng rắn tập quen lẫn lộn ở chung với nhau mới là thực)

 

NHẠN BÀNG VÂN TiÊU cách

Phát xứ phi nhân tổ

Thành sự bấi khốc thân

Tạc sơn phùng mỹ ngọc

Quật thổ đắc hoàng kim

Cốt nhục ân trung oán

Uyên ương bội hậu tâm

Tử y thân nhất tiễn

Thiên lý thành tri âm

 

Dịch: NHẠN Ở VEN MÂY

Nơi phát đạt không phải là quê hương

Nên việc không phải nhờ bà con

Đào núi gặp ngọc quý

Đào hang thỏ bất được vàng ròng

Người ruột thịt làm ơn thành oán

Vợ chồng không thật lòng

Một khi dâng tấm áo tía

Muôn dặm trở thành tri âm

 

HÀNH TÀNG (Sự nghiệp)

Tâm thiện đáo đầu chung tất an

Phong đình phục chỉnh điều ngư can

Ngọc quan phong trục hoàn tu lập

Độc điều ngao ngư dã bất nan

Dịch:

Rút cuộc làm lành thì được ở yên

Gió ngưng ta lại sắp sửa cần câu

Nơi Ngọc Quan gió thổi lại càng phải đứng vững

Một mình câu được cá Ngao thật không khó

 

CƠ NGHiỆP (Cơ Nghiệp)

Dục thượng cao sơn lực bất giờ

Căn thâm lão thụ tiếp thiên nha

Phùng ngưu ngộ khuyến chung thành khánh

Thủy khẩu ân nhân tiện khởi gia

Dịch:

Buồn trèo lên núi cao nhưng không đủ sức

Gốc rễ sâu cây già cao lưng trời

Gặp năm Sửu năm Tuất thì có chuyện mừng

Có vị ân nhân nơi thủy khẩu giúp cho nên cơ nghiệp

 

HUYNH ĐỆ (Anh em)

Thiên biên lưỡng yến phân phi khứ

Thủy biên duy tồn nhất chích cô

Ngô Việt tiêu tương âm tín viễn

Phiến phàm phong tống ngộ bình hồ

Dịch:

Ở lưng trời đôi chim én lìa nhau bay đi

Bên sông chỉ còn lại một con lẻ loi

Đôi bên Ngô Việt bến tiêu tương tin tức xa xôi

Một cánh buồm gió thuận lợi lại gặp hồ nước phẳng lặng

 

 

HÔN NHÂN (Vợ chồng)

Tường ngoại chi đầu vị phóng hoa

Hồi vọng tiêu điều độc ngã gia

Thiên lý minh nguyệt nhân sự hảo

Chỉ phạ âu lộ tại liêm hà

Dịch:

Ở ngoài tường đầu cành hoa chưa nở

Nhìn thấy chỉ có nhà mình là tiêu điều

Trăng sáng ngàn dặm nhân sự tốt

Chỉ sợ cò vạc ở chốn rừng thưa

 

TỨ TỨC (Con cái)

Tường ngoại nhất chi hoa tạ liễu

Ngạnh lưu nhất quả bán thanh hoàng

Ngủ hồ tứ hải đa huynh đệ

Nhân rắc tri âm thượng ngọc đường

Dịch:

Ở ngoài tường một cành hoa đã tàn

Chỉ còn lại một quả nửa xanh nửa vàng

Có nhiều anh em ở bốn bể năm hồ

Cũng nhờ bạn tri âm mà được lên nhà ngọc

 

THU THÀNH (Mãn cuộc)

Kiến thờ phùng kê tai thượng thiểu

Kỵ long kiến mã chủ ưu kinh

Nhất phiên nhân sự đa canh biến

Cơ hứa nhân gian lộ bất bình

Dịch:

Gặp năm Mão năm Dậu tai ương ít

Đến năm Thìn năm Ngọ thì nhiều âu lo

Một ran vấp váp thì nhiều thay đổi

Như vậy con đường nhân gian chẳng được bằng phẳng

Kết nối với Keng qua Facebook Comment

comments

Từ khóa:

0 Comments

You can be the first one to leave a comment.

Đăng bình luận